Bài đăng phổ biến

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Trường ca làng nhàng - Giải thưởng to

“Trường ca biển”- Một tác phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo của Hữu Thỉnh sắp được giải thưởng Hồ Chí Minh

Trần Mạnh Hảo (danlambao) - Trên các trang mạng, chúng tôi vừa công bố bài viết : “Hai tác phẩm của ông Hữu Thỉnh dự giải thưởng Hồ Chí Minh 2011; một tác phẩm dở và một tác phẩm phạm quy”.Trong bài báo này, chúng tôi đã phân tích cặn kẽ và chứng minh rõ ràng rằng tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh dự xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 là một tập thơ dở, nhạt nhẽo, ít có giá trị nghệ thuật. Nay chúng tôi xin mời qúy độc giả cùng chúng tôi khảo sát thêm một tập thơ khác là “Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh (do NXB Quận đội nhân dân in năm 2004 – trong đó in kèm hai trường ca: “Đường tới thành phố” và “Sức bền của đất”). Trong tập “Trường ca Biển”, trường ca này in từ trang143 đến trang 202, chia làm sáu chương.


Chúng tôi buộc lòng phải làm khổ bạn đọc là xin trích nguyên chương một “Trường ca Biển” ra đây để nhờ qúy vị độc giả, hoặc nhờ quý vị trong hội đồng xét đề cử giải thưởng văn học Hồ Chí Minh 2011 của Hội nhà văn Việt Nam, quý vị trong hội đồng xét giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh của nhà nước có con mắt xanh chỉ dùm cho chúng tôi xem, trong “biển thơ” dài dằng dặc của chương một mở đầu này, chất thơ nằm ở đâu, chất nghệ thuật nằm ở đâu ? Chứ chúng tôi, vốn người trần mắt thịt, chỉ thấy toàn bộ chương “Dốc biển” mở đầu “Trường ca Biển” này của Hữu Thỉnh toàn chữ là chữ mà tịnh không thấy một câu thơ. 

Xin trích :




“Chương một: Dốc biển
Đi hết Trường Sơn ra với đảo
Dốc lại dựng lên trong mỗi ngày thường
Mỗi ngọn sóng một đỉnh đèo thác trắng
Bóng mát thật hiền dưới vành mũ gian nan

Đến một ngày kia những người lính đã tới biển của mình. Cuộc gặp gỡ của triệu năm với đứa con trận mạc. Không chỉ là người lính lạ lẫm, chính biển lạ lẫm đầu tiên. Biển thốt lên: "Người sắp thắng trận sao mà hốc hác quá". Những người lính cầm le ta cành sú hoe vàng, cầm luôn cả một miền che chở mới. Người lính nói: "Tôi đi qua nhiều bóng mát để về đây". Bóng mát đã lùi xa. Mực tím đã trải lại cho tuổi học trò. Tiếng gàu sòng đã trả về cho cơn hạn hán. Trước mặt là biển, bốn bề là biển, hình như phải nói một câu gì với biển.Và người lính nói:- Hôm nay tôi thấy biển lần đầu. Biển nói:- Mái gianh nhà anh không nói thế.Vại nước gốc cau nhà anh không nói thế. Người lính nói:- Tôi phải làm gì.Biển nói:- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.

Đó là, nghi lễ đầu tiên và nghi lễ cuồi cùng. Người lính nói:- Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu. Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin.Tôi đã tin và chưa hề bị ngã. Biển nói:- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm. Người lính nói:- Có bí quyết gì sau sóng kia chăng? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.Người lính nói: Tôi đã đi suốt hai đầu đất nước. Biển hiu hiu thán phục- Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời.Biển hiu hiu thán phục. Và biển chỉ hỏi anh đơn giản điều này:- Anh có biết bơi không? Người lính nói:- Không phải ai cũng biết bơi. Thế mà sao vẫn rất nhiều cái huơ tay hãnh tiến. Biển nói: - Họ đang bơi trên số phận của mình. Một nửa trí khôn của con người là tìm cách chứng nhận mình và chứng nhận lẫn nhau. Người lính nói: - Cây không đi tìm gió, nhưng kẻ thù sẽ đến tìm ta. Ta lấy gì để che mắt chúng? Màu cát hay màu biển. Biển nói- Còn lại một mình anh. Người lính nói"- Tôi phải làm gì? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói: - Tôi có nhiều bạn.
Tôi cầm tay nhiều người Nhiều người cầm tay tôi
Tôi sẽ gọi tên ai đầu tiên trong cơn khát biển? Biển nói:- Kẻ thù nói ngoài khơi có vàng và tìm cách cướp vàng.Bạn bè nói ngoài khơi có sóng dữ và chia sóng cùng anh. Hãy gọi ai không biến sóng dữ của kẻ khác thành quà tặng cho mình. Người lính nói:- Bao năm rồi tôi nhìn mây biết giớ nhìn cỏ biết mưa, cả cánh buồm cũng giúp tôi chạy thóc và nhà trước khi cơn giông đến. Gió đấy, cỏ ấy và cánh chuồn mau mắn ấy có giúo gì tôi ở biển? Biển nói:- Đó là những đồng tiền để tiêu trên mặt đất. Người lính nói:- Bao vốn liếng cả một đời góp nhặt. Bước xuống tàu bỗng thành kẻ tay không. Biển nói:- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói:- Xin tạm biệt những dây hòm dây cóc day mai.
Đến thay đôi thiếu đứt
Giúp ta xong buổi cày
Xin tạm biệt những cử nâu me mệt ngủ
Chín dần bên dấu chân voi.
Xin tạm biệt những buổi trưa bát vở những buổi tối hết dầu những ban mai thổi lửa.
Tạm biệt em, nỗi éo le của anh, dang dở của anh, cay đắng của anh; tạm biệt cơn khát tình vằng vặc.
Em đã đến thở than trên sáo trúc
Xua đêm đi thành mộng mị đời anh...


Lời sóng I

Những người lính ra đảo/Có dòng sông đồng hành/Năm dài và đất rộng/Vui buồn sau chiến tranh/Có người lính xây thành/Lẫn vào lau biên ải/Có bao người con gái/Đến thăm nàng Vọng Phu../.Biển thành nắng thành mưa/ Của đất liền vòi vọi/ Biển thành đêm thành ngày/ Nồng nàn trên gối cưới/ Em muốn đem tóc xanh/ Buộc trời cho đỡ bão/ Em muốn gửi tròn tay/ Gối mềm trên cát đảo…” ( hết trích)


Giả sử như năm chương sau của “Trường ca Biển”, Hữu Thỉnh viết thật hay, thì cũng không cứu nổi trường ca này rơi xuống biển nhạt nhẽo mất tăm vì toàn chương một là những con sâu lớn làm rầu nồi canh mất rồi. Chẳng lẽ, chúng tôi phải in lại toàn bộ “Trường ca biển” trong bài viết này để tra tấn bạn đọc, đành phải trích thêm một đoạn khá nhất của chương hai có tên là “ Cát” để các vị trong các hội đồng xét giải thưởng dùng con mắt xanh chỉ cho chúng tôi xem đoạn trích dưới đây thơ nằm ở đâu, nghệ thuật nằm ở đâu, xúc động nằm ở đâu ? Xin trích : “…

Cát ở đây là lối đi
Cát là chỗ ăn cơm chiêu ngụm nước
Cát là giường nằm gối đầu lên cát
Cát theo lá thư đồng đội gửi về

Cát ở đây là tất cả
Cát là tiền duyên cát là điểm tửa
Nơi chạm súng đầu tiên chốt cặn sau cùng
Sống cát là bệ tì
Chết cát là hoa tươi và nước mắt
Sống cát là màu che mắt địch
Chết cát là màu tang
Không có chỗ nào không có cát
Không có điều gì không có cát
Cúng tôi bắt đầu ngả bóng của mình lên

Bóng ngả về Đông về Tây về Nam về Bắc
Bóng chúng tôi nóng lên dưới cát
Bóng chúng tôi che lên Đất Nước
Giữ nguyên lời dặn của ông bà

Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

*

- Cấm đi câu ti tắm một mình
Xuống nước phải mang theo dao găm
Lũ cá he hay bổ từ trên xuống

- Cấm bơi xa miệng vực
Ở đấy nhiều sóng ngầm nhiều cá mực
Và nếu chẳng may
Nhất thiết phải bơi đứng
Cá mập không quen săn mồi thẳng

- Không được lệnh quân y
Cấm ăn một thứ lạ
Những mệnh lệnh lạnh lùng
Chúng tôi học từ máu người đi trước
Chúng tôi học để làm quen và đứng vững
Để có thể nói rằng tôi đang ở Trường Sa.

Tôi đang ở Trường Sa
Trong đội hình Song Tử Đông, Song Tử Tây, An Bang Nam Yết

Kết bạn với vô cùng
Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân
Cân người lính và hiểm nguy đời lình

Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm
Bỗng ngừng bặt
Giữa chừng réo rắt
Chúng tôi chạy ra
Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước
Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo
Sóng lườn quanh thân
Bỗng
Một tiếng thét
Một vũng máu
Một khoảng trống

Tôi gào lên
Im ắng rợn người

Tìm qua sóng
Gặp đàn cá mập
Rong rêu nhiều
Mà mất bạn
Bạn ơi!

Hôm đó đảo có thêm gạo mới
Chúng tôi đầu bỏ cơm
Hôm đó đất liền ra thư
Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc
Gạo chiều nay thành cơn cúng đưa tang
Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu
Ngày mai lại có đoàn văn công
Em hãy đến
Ngổn ngang
Cùng im lặng!  


( hết trích)

Hầu hết những cái gọi là câu thơ trên đều chỉ là những câu nói dẫn chuyện (tự sự) năng xuống dòng mà thành. Đã nhiều lần chúng tôi cho rằng, trong thơ có nói, nhưng chỉ là những câu nói thông thường năng xuống dòng thì dứt khoát không phải là thơ.


Xin trích thêm một đoạn gọi là “thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong chương ba có tên “Tự thuật của người lính”, như sau:

“…
Tôi được ăn bữa no đầu tiên
Cha phá kho thóc Nhật
Dòng khẩu hiệu trên nong nia thúng mẹt
Năm làng tôi đi cướp quyền
Tôi nhập tâm những chữ cái đầu tiên

Ngồi tránh đạn trong chiếc hầm thước thợ
Tôi còn dễ mất hơn
Hòn cuội trắng trong chiếc bao diêm nhõ
Một đứa trẻ bị bỏ quên và dễ vỡ
Vẫn bị rầy vì cài cúc so le
Tôi đã lớn để trở thành người lính
Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng
Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được
Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút
Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm

Đã đem theo những căn nhà mái thấp
Đường vào Nam mưa mỗi lúa mỗi to
Đã giấu mình trong lá lau lá chít
Đã nấu nung để chớp giật không ngờ

Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh
Đi như song hiếu động như rừng
Đã để lại thảnh thơi cho cỏ
Và nhận về giông bão trên lưng

Đã khắc vào cây để nhớ một ngày
Để nhớ một người để thương đất nước
Đã để ít đời mình nơi ngã ba khốc liệt
Đã bông đùa xen kẽ với bom rơi

Tôi đã ăn những quả cà kho mặn
Hái trong vườn có nắng xiên quai
Có chú ve sầu làm tổ gốc cây
Kêu sốt ruột những ngày tôi đi vắng

Cố nhóm lửa lại vội vàng qiấu khói
Cơm chín rồi cứ ngân ngấn thương nhau
Tiếng nai tác đi ăn than ngoài rẫy
Sao ta hoài thắc thỏm đâu đâu

Sao hay nhớ hay thương va hay vấp
Bước say mê trên sông núi hữu tình
Chiếc lá mở trước của hầm thân mật
Thưa của trời súc tích chỉ màu xanh

Tôi đeo quanh cây của đất nước mình
Làm chùm quả dưới vòm trời nhiệt đới
Những chùm quả có nắng vào làm lõi
Cứ ngày ngày thơm thảo với quê hương


(hết trích)


Câu gọi là thơ nôm na hơn cả câu nói đời thường kiểu: “Đường vào Nam mưa mỗi lúc mỗi to”…là dáng tiêu biểu những “câu thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong “Trường ca biển”.

Xin trích thêm một đoạn trong chương năm:

“Cho những buổi trưa đàn trâu mộng dầm mình trong nước sánh. Cho bên lở bên bồi tạo hóa buộc lòng bất công dằng dặc. Cho lóng một lóng đôi rổ rá giần sàng, che chắn gió biến thành kẻ ăn người ở.


Cho bên ấy bên này diệu vợi, cả tiếng gọi đò cũng là quà tặng của dòng sông
Khi gặp biển đó là lúc sông đem cho lần cuối, một cuộc cho trọn vẹn huy hoàng như thơ cho, như mùa dâng quả, cô gái biến thành nàng dâu để lại sau lưng bao tiếng thở dài. Và khi không còn gì để cho, sông như tráng sĩ không còn vũ khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không còn bí quyết; sông như nghệ sĩ đã nắm xong vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng kích thước của biển.

Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu không cùng
Sông - những cây nước khổng lồ
Bóng mát mệt mê mang mang bồi đắp
Sông góp củi cho nồi cơm lớn
Lòng vị tha là người khách sau cùng

Dưới đáy biển
Sông lang thang tìm lại các dòng sông
Trên mặt sóng
Đảo đang vào mùa nắng


*

Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui’’

( hết trích)

Hữu Thỉnh ưa triết lý, mà hầu như toàn triết lý sống sượng, buồn cười, ví dụ :

“Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu khôn cùng”

Bốn câu gọi là thơ này của Hữu Thỉnh nếu đem đi dự thi báo “Tuổi Trẻ Cười” chắc sẽ được giải cao.

Triết lý như những “câu thơ” này của Hữu Thỉnh còn chết cười hơn nữa :

“Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui”

Hữu Thỉnh quả là có óc hài hước, có tài về thơ chọc cười ngay trong khi chơi thơ trữ tình quả là xưa nay hiếm có.

Thường trong “Trường ca biển”, Hữu Thỉnh hay triết lý rất ngô nghê, dông dài, lẩm cẩm, buồn cười, như sau :

“Dưới bầu trời khắc nghiệt của chiến tranh
Tôi ít nói nhường lời cho súng nổ
Chính khẩu súng cũng giúp tôi gạt bỏ
Tính hiếu kỳ như một sự trớ trêu
”

Có khi Hữu Thỉnh “triết lý” rất chi là bí hiểm, y như đánh đố, sao lại : “Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”…


“thế lày nà thế lào” thưa nhà thơ Hữu Thỉnh ? Xin trích cả đoạn này, để quý độc giả suy luận, khỏi mang tiếng cắt xén :

“Mẹ ơi , khi con đau đớn nhận ra cái ác là vô cùng
Cũng là lúc con nhận ra sự hữu hạn của lòng tốt

Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng
Trên thế gian đầy bất trắc
Ngày thứ tư con "đi" trên biển

Bằng đôi tay của mình
Số phận biến con thành một chú bọ gậy ngang tàng

Không chịu chết vì chán nản
Và khi cả người con dán chặt vào đất
Như một - con - tem - người
Dán vào dòng đời
Con bỗng nhận ra không phải lá cờ ta
Không phải mẹ
Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”

(hết trích)

Nói cho công bằng, trong “Trường ca biển” nếu chịu khó đãi cát tìm vàng, vẫn có thể tìm thấy một vài đoạn thơ khá, ví dụ :

“Đom đóm ơi đom đóm dẫn đi đâu
Đêm là tàu lá sen che nửa phần trái đất
Ấy là lúc những vì sao xa lắc
Nối với tôi qua một sợi dây diề
u”

Và câu hay :
“ Ngày anh về
Lúa đồng cúi hạt”


Nhưng những câu hay, câu khá như trên quả là hiếm hoi trong thi phẩm này của Hữu Thỉnh.



Trong “Trường ca biển”, ta bắt gặp lối viết, cách nói phúng chỉ, ví von thẽo thọt, tủi phận …lặp lại từ các tập thơ trước của chính tác giả, ví dụ :



“Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng / Đêm như là vắt kiệt các vì sao”, “Đồng vắt kiệt nằm than trong gió bấc”, “Không không mẹ dặn tôi không/ Ngọt chả sợ đường đường không sợ lội”, “Chim ngói cả tin mắc lồng oan nghiệt/ Ngọn tơ hồng chết nghẹn giữa bòng bong”…. Hoặc một câu lục bát thất vận : “Cầu vồng xanh đỏ tím vàng/ Chim cu toan đổi chuỗi cườm trời cho”…


Nói tóm lại “Trường ca biển” là một thi phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo, thiếu hẳn giá trị nghệ thuật vì tác giả viết bằng sự khéo tay, thiếu xúc cảm, thiếu một trái tim chân thành của một thi sĩ đúng nghĩa. Chẳng lẽ người ta lại đi tôn vinh hai tác phẩm dở tệ này của Hữu Thỉnh là “ Trường ca biển” và “ Thương lượng với thời gian” bằng giải thưởng Hồ Chí Minh, để tìm cách hạ thấp giá trị của giải thưởng này đến mức không còn từ gì để nói thế này ư ?


Sài Gòn ngày 01-9-2011
. Bookmark the permalink.

Mỹ do dư bán máy bay...

MỸ DO DỰ VIỆC BÁN F-16 CHO ĐÀI LOAN LÀ DO SỢ GIÁN ĐIỆP TRUNG QUỐC

Trần Khải.

-Việt Nam có mua tàu ngầm hiện đại của Nga cũng vô ích nếu khi mà cán bộ cao cấp đã bị Trung Quốc mua ?


Liệu gián điệp Trung Quốc đã chen vào bộ máy cao cấp của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhiều nơi, nhiều cấp không ? Trên nguyên tắc, chúng ta không trả lời nổi. Bởi vì không ai biết được các hoạt động gián điệp gài sâu, luồn cao như thế. Nhưng có một suy luận khả tín: khi Trung Quốc  đã gàì gián điệp vào mọi ngõ ngách của chính phủ Đài Loan, tất nhiên là cũng phải gài tràn ngập tại Việt Nam, nơi từ lâu được xem như cửa ngõ để TQ bước chân vào Đông Nam Á.
Câu hỏi mới nên đưa ra: Tại sao chính phủ Mỹ do dự, chưa muốn bán chiến đấu cơ tối tân F-16 cho Đài Loan. Tất nhiên là có nhiều lý do, nhưng với tác giả J. Michael Cole -- Phó Trưởng Ban Biên Tập báo Taipei Times và là phóng viên của tuần báo quốc tế Jane’s Defence Week -- đơn giản vì Mỹ tin là gián điệp TQ đã gài khắp các ngõ ngách Đài Loan, và bán F-16 cho Đài Loan là sẽ cho gián điệp TQ đầy đủ mô hình kỹ thuật chiến đấu cơ tối tân của Mỹ.
Bài viết hôm 30-8-2011 trên báo Wall Street Journal của Cole có nhan đề “Taiwan Is Losing the Spying Game” (Đài Loan đang thua trận gián điệp rồi).

Cole nêu rằng từ nhiều tháng gần đây, chính phủ Obama vẫn còn do dự chưa muốn bán 66 chiến đấu cơ đời F-16C/D, mặc dù Đaì Loan đã xin mua từ năm 2007. Quyết định cuối cùng sẽ loan báo vào ngày 2-10-2011, và trong khi nhiều nhà quan sát dự đoán rằng các yếu tố  chính trị sẽ làm cho Mỹ bác bỏ yêu cầu này, nhưng, theo Cole, một yếu tố quan trọng hơn mới là quyết định: gần như bất kỳ ngõ ngách nào trong xã hội Đài Loan cũng đã bị gián điệp Trung Quốc gài vào nằm vùng.

Do vậy, chính phủ Hoa Kỳ và các nhà sản xuất quốc phòng Mỹ lo ngại rằng bất kỳ thương vụ vũ khí nào cho Đài Loan đều có cơ nguy kỹ thuật quân sự tối tân sẽ bị giao về cho Bắc Kinh.
Cole nói rằng nỗi lo đó không có gì mới. Bất kỳ ai quan sát diễn tiến ở Đài Loan các năm gần đây đều thấy gián điệp TQ đã gài vào quân đội Đài Loan, đặc biệt là ở cấp sĩ quan cao cấp.
Trong nhiều năm qua, các viên chức Mỹ kinh ngạc nhìn thấy các tướng Đaì Loan mới hồi hưu là đều vào thăm Trung Quốc để chơi golf, được các cấp tương nhiệm trong Quân Đội CSTQ mời uống rượu và ăn tiệc linh đình, và tất nhiên là rượu vào thì lời ra -- tha hồ mà thổ lộ thông tin. Đó là chưa nói tới các nàng Tây Thi sắc nước hương trời trong những biệt đội bông hồng đỏ TQ.
Cole viết rằng uy tín Đaì Loan bị sứt mẽ vì hàng loạt vụ liên hệ tới các sĩ quan cấp cao hay dân sự cấp cao bị móc nối làm gián điệp cho Trung Quốc. Một số chương trình quân sự cũng bị lộ vì có hỗ trợ từ gián điệp TQ gài từ bên Mỹ, thí dụ như vụ Po Sheng (tiếng Mỹ dịch là Broad Victory, Bách Thắng) -- một mạng lưới chỉ huy hành quân phức tạp mà Đài Loan mua từ hãng quốc phòng Mỹ Lockheed Martin lại bị gián điệp TQ gài mua thông tin năm 2008; trong đó nhà phân tích Hoa kỳ Gregg Bergersen, bị truy tố vì bán hồ sơ mật cho Kuo Tai-sheng, người có song tịch Mỹ-Đài Loan nhưng thực ra là gián điệp TQ.
Cole cũng nhắc rằng mới đầu năm nay, Lai Kun-chieh, kỹ sư nhu liệu, bị lộ  khi chuyển thông tin về hệ thống phòng thủ phi đạn PAC-3 Patriot  về cho Bắc Kinh.
Rồi mới tháng này (tháng 8-2011), Hoa Kỳ đã đẩy sang Đài Loan nhân vật có tên là Ko-suen “Bill” Moo. Ông Moo là viên chức thương vụ cao cấp của hãng quốc phòng Lockheed Martin, nguyên bị Mỹ bắt tại Miami năm 2005 và bị kêu án 6.5 năm tù vì tìm cách bán nhiều thứ, trong đó có toàn bộ một động cơ F-16 sang cho Bắc Kinh.
Vậy mà các viên chức Đài Loan không gặp được ông Moo khi đương sự tới phi trường, bất kể được phía Mỹ thông báo trước, và rồi từ đó không biến ông Moo biến đi đâu.
Cole cho biết, ông Moo, 64 tuổi, cũng liên hệ chương trình Po Sheng, có nhiều bạn thân trên cấp cao trong Không Quân Đài Loan. Người ta nói rằng ông Moo trong một nhóm nhỏ của Không Quân Đài Loan có bí danh là “Nhóm 4 ông,” trong đó gồm cả cự Bộ Trưởng Quốc Phòng Chen Chao-ming.

Một trung tâm gián điệp giả danh là du lịch sang Đài Loan bị lộ hồi tháng 3-2010, khi Bộ Chính Trị Quân Khu Nanjing thiết lập “Căn Cứ 311,” một chiến dịch được mô tả là hòn đá góc trong chiến tranh tâm klý của Bắc Kinh nhắm vào Đài Loan, trong đó lấy du khách làm một phần chiến thuật.
Cole viết rằng, gián điệp TQ cũng có tung ra các nươc khác, kể cả Hoa Kỳ, nhưng vấn đề là Đài Loan không đủ phương tiện chống chọi, thanh lọc gián điệp.
Cole nói rằng, nếu Tổng Thống Mã Anh Cửu quyết tâm bảo vệ nền dân chủ Đài Loan, ông Mã phải làm nhiều hơn là tìm mua vũ khí từ Hoa Kỳ. Trước tiên là phải thanh lọc gián điệp TQ trong quân đội Đài Loan, và phải tăng cường công cụ an ninh chống gián điệp TQ ở mọi lĩnh vực.
Ông Cole chỉ nói chuyện của Đài Loan, không nói gì về VN.  Nhưng chúng ta có thể tin rằng, Bắc Kinh không thể không gài gián điệp vào VN.
Trường hợp hiển nhiên cũng y hệt như của Việt Nam, nếu có mua tàu ngầm Nga thì sẽ chỉ vô ích khi mà các cấp cao đã bị Bắc Kinh mua chuộc.


( Theo vietbao.com )

Tổng Bí Thư Lê Duẩn

SỰ BẤT KHUẤT CỦA ÔNG LÊ DUẨN TRƯỚC TRUNG QUỐC


Trần Bình Nam.

-TBT Lê Duẩn: “Ông ta ( Mao Trạch Đông ) nói rằng: vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội đến giúp chúng ta xây dựng đường sá…Chúng ta biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, Mao bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ. Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu. Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.”
- Giả thuyết Hoa Kỳ và Trung Quốc chia đôi thiên hạ để cùng thống trị thế giới không phải chỉ là một giả thuyết suông. Nó có thể trở thành hiện thực và Việt Nam sẽ là “con bò sữa” làm lễ tế thần…
Trước hết Hà Nội cần xích lại thật gần với Ấn Độ, Nhật Bản, thân thiện với Liên bang Nga, Cộng đồng Âu Châu và liên minh chặt chẽ và cụ thể với Hoa Kỳ. Sau đó Hà Nội có thể mở một mặt trận ngoại giao và “lobby” để cảnh giác Hoa Kỳ rằng nếu Hoa Kỳ thông đồng với Trung Quốc để “làm thịt” Việt Nam thì ngày đó cũng là ngày tàn của siêu cường Hoa Kỳ. Tương quan Hoa Kỳ – Trung Quốc của thế kỷ 21 khác với tương quan đầu thập niên 1970 thế kỷ trước.

Lê Duẩn, Tổng bí thư
Đảng cộng sản Việt Nam là một khuôn mặt về mưu mô và thao lược có lẽ chỉ đứng sau ông Hồ Chí Minh. Đó là một trong những lý do Hồ Chí Minh chọn ông làm Bí thư thứ nhất sau cuộc cải cách ruộng đất nhiều tai tiếng.
Là một người cộng sản, Lê Duẩn kiên trì theo đuổi đường lối của Hồ Chí Minh là thống nhất Việt Nam và đặt cả nước dưới chế độ cộng sản. Ông đã chống lại một cách có kết quả chính sách của Mao Trạch Đông không muốn thấy miền Bắc chiếm miền Nam dù bằng hiệp thương bầu cử hay bằng vũ lực. Đối với Trung Quốc một Việt Nam chia đôi, miền Bắc không thể mạnh để thành một mối lo cho Trung quốc, đồng thời làm trái độn ở biên giới phía Nam giúp Trung Quốc tránh sự tiếp cận với các lực lượng quân sự Hoa Kỳ.

Từ khi bị áp lực của Trung quốc ký Hiệp định Geneve chia đôi dất nước, Lê Duẩn thấy rõ chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam trong hơn một ngàn năm qua không có gì thay đổi. Thay đổi chăng là thay đổi lối nói mồm miệng, từ “thiên triều và thuộc quốc” thành “anh em trong khối xã hội chủ nghĩa” môi hở răng lạnh giả dối.
Theo hồi ký “Cuối đời nhớ lại” của ông Nguyễn Thành Thơ một đảng viên từng có chân trong Trung ương đảng ghi lại rằng, khoảng cuối năm 1978 khi tình hình biên giới Việt – Campuchia và Việt –Trung căng thẳng, quân lính Kampuchia thường vượt biên giới cướp của và giết người mà Việt Nam không có đối sách gì. Trong một dịp Tổng Bí thư Lê Duẩn đi thăm huyện Cần Giờ tháp tùng bởi Huyện ủy và 30 cán bộ cao cấp khác, Nguyễn Thành Thơ ghi:
“Lê Duẩn nói ‘Các anh có gì hỏi tôi giải đáp’ . Anh em phấn khởi rộ lên ‘Xin hỏi K nó quấy rối biên giới ta, tàn sát cướp phá rất dã man điên cuồng, sao ta đối phó rất lôi thôi, chúng tôi khó hiểu’. Anh Lê Duãn trả lời ‘Các đồng chí hỏi đúng là một tình hình cả nước đều quan tâm, chúng tôi đau đầu lắm ngủ không được, không phải là vấn đề Khmer đỏ, vấn đề Pôn Pốt mà là vấn đề ai đằng sau Khmer đỏ, Pôn Pốt. Lần này ta có đưa đại quân đâu, bọn nó làm sao chống ta nổi, nhưng ta đánh nó, Trung quốc đánh ta thôi, nhưng ta không chiếm K, Trung quốc cũng không chiếm ta.”
(Cuối Đời Nhớ Lại của Nguyễn Thành Thơ)
Nhưng để hiểu trọn vẹn cái nhìn của Lê Duẩn đối với Trung
Quốc trong suốt thời gian từ những năm 1949 sau khi Mao chiếm Trung Hoa lục địa thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung quốc, chúng ta cần đọc bài nói chuyện của Lê Duẩn với các tướng lãnh quân đội cộng sản Việt Nam (?) vào một thời điểm trong năm 1979 sau khi Trung quốc tấn công vào biên giới Việt Nam (Bài nói chuyện của Lê Duẩn năm 1979 ) . Bài nói chuyện này được lưu trữ tại Thư viện Quân đội Nhân dân ở Hà Nội và do Christopher Goscha có được và dịch ra Anh ngữ cho Chương trình Lịch sử quốc tế về Chiến tranh Lạnh (Cold War International History Project – CWIHP) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Woodrow Wilson ở Washington D.C.
[TBN: 1. giáo sư Gosha tốt nghiệp tiến sĩ sử học đại học Sorbonne,
Paris chuyên nghiên cứu lịch sử cận đại các nước Đông Nam Á.
2. Chúng ta đang nghiên cứu một bài nói chuyện của một Tổng
Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Ngôn từ trong những đoạn trích dẫn sau là ngôn từ của một lãnh tụ cộng sản Việt Nam sau khi vừa chiến thắng Hoa Kỳ, có lúc cường điệu và tự phụ. Cốt lõi ở đây là chắt lọc cái nhìn của ông Lê Duẩn đối với Trung Quốc để rút ra những kinh nhiệm đáp ứng trong hoàn cảnh Việt Nam đang bị áp lực nặng nề của Trung quốc]
Lê Duẩn cho biết sau Hiệp định Geneve và sau khi không có hiệp thương chuẩn bị bầu cử như Hiệp định dự liệu, Trung quốc gây sức ép cho Bắc Việt Nam không được khởi động cuộc chiến tranh tại miền Nam, nhưng đảng cộng sản Việt Nam vẫn cương quyết phát động cuộc chiến. Lê Duẩn không nói ra, nhưng ai cũng biết Đảng cộng sản Việt Nam có thể làm vậy vì có hậu thuẫn của Liên Xô. Lê Duẩn nói với các cán bộ:
“Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneve, rõ ràng là Chu Ân Lai đã [ép] chia đất nước ta làm hai. Sau đó ông ta gây sức ép buộc chúng ta không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn chúng ta đứng lên nhưng họ không thể làm gì để ngăn cản chúng ta”
Theo Lê Duẩn, sau khi miền Bắc đã phát động chiến tranh du kích tại miền Nam, biết không ngăn được nên Mao Trạch Đông đổi cách suy nghĩ, lợi dụng cuộc chiến tại miền Nam để đưa quân vào Bắc Việt dòm ngó, chuẩn bị cho chương trình xâm lấn Việt Nam về sau:
Trích bài nói của Lê Duẩn:
“Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội đến giúp chúng ta xây dựng đường sá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.
Chúng ta biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, Mao bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ. Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu. Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.”
Năm 1960 khi chiến tranh du kích tại miền Nam bắt đầu tăng cường độ, tại đại hội 3 của đảng cộng sản Việt Nam, [TBN: từ 5-10/9/1960 tại Hà Nội, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh vẫn giữ danh vị Chủ tịch đảng.] Trung quốc đã thuyết phục
Đảng cộng sản Việt Nam khuyến cáo Pathet Lào trả hai tỉnh giáp biên giới Việt Nam cho chính phủ Vientaine, nói là để tránh Mỹ đổ quân vào Lào, nhưng ý đồ thật của Mao là cắt tay cắt chân của Việt Nam, và sau này dùng chi viện rộng rãi mua chuộc Lào bủa một gọng kềm bên trái cùng với gọng kềm bên phải của căn cứ hải quân Yulin nằm ở cực nam đảo Hải Nam làm hai gọng kềm kẹp Việt Nam vào giữa.
Lê Duẩn nói với các cán bộ của mình:
“Khi chúng ta chuẩn bị chiến tranh du kích tại miền Nam sau khi ký Hiệp định Geneve, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm theo cái nhìn của Trung Quốc! Mao đã bức hiếp chúng ta và chúng ta đã phải làm điều đó.”
Lê Duẩn giải thích sở dĩ Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam Việt Nam vì Liên Xô và Trung Quốc bất hòa nhau, và chính sách của Liên Xô và Trung Quốc về Việt Nam đối nghịch nhau. Liên Xô muốn Hà Nội khởi động chiến tranh tại miền Nam, Trung Quốc thì không muốn. Lê Duẩn dẫn chứng năm 1961 khi Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam còn là một khối (TBN: lúc đó dấu hiệu bất hòa chưa hiện ra bên ngoài) tổng thống Kennedy đã không dám can thiệp vào Lào nên cùng với Nga và Trung Quốc trung lập hoá Lào và lập chính phủ liên hiệp quốc cộng tại Vientaine. Hoa Kỳ và Trung quốc có cùng mục tiêu trong việc trung lập hóa Lào, chủ yếu là chắn con đường tiếp vận quan trọng từ bắc Việt Nam vào miền Nam để giảm thiểu khả năng xâm lăng miền Nam của Bắc Việt.
Lê Duẩn nói:
“Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng Nhân dân Cách mạng Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.
Sau đó, khi Liên Xô và Trung Quốc xung đột với nhau, Mỹ được Trung Quốc thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ sự trả đũa của Trung Quốc.”
Trong một đoạn khác Lê Duẩn phán đoán rằng nếu không có sự đồng ý của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã không dám gài mìn phong tỏa hải cảng Hải phòng mùa hè năm 1972 và dùng B52 bỏ bom Hà Nội tháng 12 năm đó.
Lời Lê Duẩn:
“… Tuy nhiên, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế..”
Buổi nói chuyện của Lê Duẩn đã giải thích tại sao Hà Nội phát động cuộc chiến tranh vào các thành phố và trung tâm dân cư miền Nam trong dịp Tết Mậu Thân. Cường độ và địa bàn tấn công, gồm cả tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã làm cho bộ tham mưu của tướng Westmoreland ngạc nhiên. Ngạc nhiên không phải vì không đoán trước Bắc Việt sẽ tấn công. Tình báo Hoa Kỳ đã ghi nhận sự chuyển quân của Bắc Việt. Ngạc nhiên vì tướng Westmoreland và Bộ quốc phòng Hoa Kỳ nghĩ rằng bộ đội cộng sản sẽ đánh mạnh vào các đơn vị quân đội Mỹ sau Tết và trong dịp ngưng bắn Tết họ chỉ quấy phá nhỏ. [TBN: Victory At any Costs by Cecil B. Currey, page 266-267].
Ngoài ra song hành với cuộc tấn công Mậu Thân nhiều sư đoàn thiện chiến của Bắc Việt bao vây căn cứ Khe Sanh, và các chiến lược gia Hoa Kỳ vẫn còn bình luận về mục tiêu chính của Bắc Việt là thu đoạt một thắng lợi dứt điểm tại Khe Sanh như họ đã thắng trước đây tại Điện Biên Phủ hay tấn công đồng loạt vào các trung tâm dân cư để tạo một cuốc nổi dậy. Lê Duẩn cho thấy Hà Nội không có ảo tưởng hạ căn cứ Khe Sanh trước hỏa lực của Hoa Kỳ. Bao vây Khe Sanh chỉ là kế “điệu hổ ly sơn” [TBN: đúng hơn là “điệu trâu lên rừng”].
Hà Nội cũng không có ảo tưởng gì nhân dân miền Nam sẽ nổi dậy. Vào năm 1967 Hoa Kỳ có hơn 500 nghìn quân tại Việt Nam. Quân đội chính quy Bắc Việt đã chạm trán với quân đội Hoa Kỳ trong thung lũng Ia Drang trong năm 1965 và phải trốn qua biên giới Lào để khỏi bị tiêu diệt nên biết rằng không thể đụng trận mãi với các sư đoàn quân Hoa Kỳ được. Lê Duẩn và Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam tính rằng nếu Hoa Kỳ đưa thêm quân vào Việt Nam thì trước sau Bắc việt cũng thất bại. Nên chiến lược của Lê Duẩn là đánh một trận xả láng vào các thành thị miền Nam bất chấp quy ước, chấp nhận mọi tổn thất để tạo xúc động tâm lý tại Hoa Kỳ để Hoa Kỳ ngưng tăng quân và dọn đường thương thuyết.
Mục tiêu của Lê Duẩn đã đạt được. Bắc Việt đã tổn thất nặng nề về mặt quân sự, nhưng thắng lớn về mặt chính trị. Tổng thống Johnson đã không gởi thêm quân theo yêu cầu của tướng Westmoreland và đề nghị thương thuyết. Trớ trêu là lúc đó Trung Quốc ngăn cản không cho Hà Nội thương thuyết. Trung Quốc hứa sẽ gởi thêm súng đạn, đồng thời xúi dục Hoa Kỳ đổ thêm quân vào. Trung Quốc muốn Việt Nam đánh để kiệt quệ đến người lính cuối cùng.

Lời Lê Duẩn: “Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.
Đến lúc Hoa Kỳ muốn thương lượng với chúng ta, đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các anh không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các anh phải dụ quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ”. Ông ta gây áp lực với chúng ta làm cho chúng ta bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề đơn giản mà rất mệt mỏi.
Chúng ta không nghe lời của Ho Wei. Chúng ta ngồi xuống ở Paris. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo với Mỹ: ‘Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông muốn đưa vào Việt Nam bao nhiêu lính, tùy các ông’. “
Lê Duẩn cho biết rằng có một lần Mao giả vờ không nhớ sử để cảnh cáo Lê Duẩn rằng, quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh bị Việt Nam đánh bại, nhưng quân Mao sẽ thôn tính Việt Nam, và Lê Duẩn đã phản ứng bằng cách cảnh giác rằng Việt Nam cũng sẽ đánh thắng quân Mao.
Lê Duẩn thuật lại cho các cán bộ nghe một mẫu chuyện giữa ông ta và Trường Chinh với Mao và Đặng Tiểu Bình tại Bắc Kinh năm 1963.
“Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á”.
Ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam! “
Cũng trong dip đó Mao hỏi tôi: “Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!
Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Trời! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!
“
Mao không hỏi thẳng về Việt Nam, nhưng gián tiếp hỏi tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?”
Hiểu ý của Mao, tôi nói [nửa đùa nửa thật]: “Đúng. Nếu các ông đánh chúng tôi chúng tôi cũng sẽ đánh thắng các ông. Các ông có biết điều đó không?”
Qua bài nói chuyện của Lê Duẩn chúng ta thấy Trung Quốc, dù thuộc thể chế nào, vương triều, dân chủ hay cộng sản đều có mộng thôn tính Việt Nam. Và Việt Nam dù thuộc thể chế chính trị nào cũng cảnh giác manh tâm của Trung quốc.
Quá trình cảnh giác của người cộng sản Việt Nam bắt đầu từ những năm 1954 khi Trung quốc ép ông Hồ Chí Minh ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước. Và chính quyền hiện nay cũng có sự cảnh giác cao độ. Tuy nhiên không gian xoay xở mỗi thời mỗi khác, và cách đáp ứng của chính quyền hiện nay chưa được xem là thích ứng với hoàn cảnh.
Thời đại của Hồ Chí Minh Hà Nội dễ xoay xở hơn vì có Liên xô đối trọng với Trung Quốc. Và cho đến năm 1975 Trung Quốc còn yếu kém về cả hai mặt kinh tế và quân sự so với Hoa Kỳ.
Bối cảnh hôm nay khác hẵn. Liên Xô sụp đổ Hà Nội phải dựa vào Trung Quốc hơn để tồn tại. Kinh tế Trung Quốc hiện chỉ thua Hoa Kỳ, với một lực lượng quân sự hùng mạnh gấp nhiều lần quân đội cộng sản Việt Nam. Về mặt lãnh đạo, Lê Duẩn vừa có tài thao lược vừa có quyền quyết định (ngay cả khi ông Hồ Chí Minh còn sống vì được Hồ Chí Minh tin cậy) nên tuy có lúc ông phải nhượng bộ áp lực Trung Quốc, ông vẫn rất cứng rắn trước các đòi hỏi quá đáng của Trung Quốc. Sau khi Lê Duẩn chết (7/1986) các Tổng bí thư kế tiếp không ai mưu lược và có nhiều quyền quyết định như Lê Duẩn. Nhất là từ đại hội 9 năm 2001 khi Nông Đức Mạnh lên Tổng bí thư, sự lãnh đạo tại Hà Nội càng ít bén nhạy hơn, và hiện nay với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng không có gì khá hơn.
Về mặt chiến lược từ tháng 4/2006 Hà Nội đã tìm cách xích lại gần Hoa Kỳ một cách dè dặt để tìm thế đối trọng với Trung Quốc. (Quan Hệ Việt Trung 1991-2008). Nhưng về mặt chiến thuật cung cách đối đáp của Hà Nội trước áp lực của Trung Quốc không thích hợp và được xem là nhu nhược đến độ người ta nghi ngờ Trung Quốc đã nắm trọn Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam trong tay.
Nước nhỏ cạnh nước lớn cẩn trọng về ngoại giao là cần, nhưng không được để cho sự cẩn trọng làm quốc gia bại liệt. Phải biết phản ứng khi cần thiết. Không thể để cho Trung Quốc bắn giết ngư dân hay cấm đánh cá trong vùng biển quốc tế mà không mạnh mẽ lên tiếng hay đưa nội vụ ra trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc dù biết Trung Quốc sẽ dùng phiếu phủ quyết. Không thể để cho tàu hải giám Trung quốc húc chìm thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam mà không dám minh danh tố cáo Trung quốc mà chỉ nói là “tàu lạ”. Không thể nể Trung quốc mà không đưa vụ tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa ra trước tòa án quốc tế trong khi Việt Nam có nhiều bằng chứng pháp lý chủ quyền, dù biết rằng tòa án quốc tế không thể thụ lý vì Trung quốc sẽ không đồng ý kiện về chủ quyền đất đai. Việt Nam cần nghiên cứu các án lệ kiện chủ quyền đất đai trên thế giới để chuẩn bị cần làm gì để có nhiều may mắn thắng trước tòa quốc tế. Việc chính quyền Hà Nội vì tế nhị ngoại giao không lên tiếng chính thức và kịp thời trước các vụ lấn đảo lấn biển của Trung quốc có thể là một bất lợi về sau. Và lệnh cấm nhân dân biểu tình chống hành động xâm lấn của Trung quốc cũng có thể là một bất lợi pháp lý khác.
Trong bài nói chuyện Lê Duẩn có nói đến khung cảnh quốc tế mới để chứng minh rằng Trung quốc không thể đánh Việt Nam mà không bị phản ứng của thế giới. Ông nói:
“Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh nước ta để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh một cách dễ dàng. [Đầu năm nay] Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam”! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. Ngay cả trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.”
Ông Lê Duẩn nói đúng. Nhưng quan hệ giữa Liên xô và Hoa Kỳ bấy giờ và bây giờ đối với Việt Nam khác nhau. Năm 1979 Việt Nam có Hiệp ước an ninh vừa ký với Liên Xô và Liên Xô là một đồng minh tin cậy được. Khi Trung Quốc đánh Việt Nam Liên xô đã đưa hạm đội đến đóng ngoài khơi Thanh Hóa Nghệ An, và Hồng quân Liên xô sẵn sàng mở mặt trấn biên giới phía bắc Trung Quốc nếu Trung Quốc tiến sâu hơn vào Hà Nội.
Hiện nay Việt Nam chỉ có quan hệ lỏng lẻo với Hoa Kỳ. Nhưng dù có liên minh chặt chẽ Hà Nội cũng không thể hoàn toàn tin cậy vào quyết tâm của Hoa Kỳ. Hai nước vừa đánh nhau (1965-1975) và bài học của Việt Nam Cộng Hòa còn nóng hổi. Giả thuyết Hoa Kỳ và Trung quốc chia đôi thiên hạ để cùng thống trị thế giới không phải chỉ là một giả thuyết suông. Nó có thể trở thành hiện thực và Việt Nam sẽ là con bò sữa làm lễ tế thần.
Nhưng nếu vào thập niên 1970, Việt Nam Cộng Hòa bó tay chịu chết khi Nixon và Kissinger nói chuyện với Mao và Chu Ân Lai trên đầu mình, thì hiện nay Hà Nội có thế xoay xở hơn.
Trước hết Hà Nội cần xích lại thật gần với Ấn Độ, Nhật Bản, thân thiện với Liên bang Nga, Cộng đồng Âu Châu và liên minh chặt chẽ và cụ thể với Hoa Kỳ. Sau đó Hà Nội có thể mở một mặt trận ngoại giao và “lobby” để cảnh giác Hoa Kỳ rằng nếu Hoa Kỳ thông đồng với Trung Quốc để bỏ Việt Nam thì ngày đó cũng là ngày tàn của siêu cường Hoa Kỳ. Tương quan Hoa Kỳ – Trung Quốc của thế kỷ 21 khác với tương quan đầu thập niên 1970 thế kỷ trước.
Đối nội các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam cần huy động nội lực của nhân dân qua một chương trình cải tổ chính trị và chỉnh đốn vũ trang với chiến thuật du kích trên không, trên biển và đất liền.
Hoàn cảnh Việt Nam hôm nay có khó, nhưng không phải Việt Nam không có đường thoát ra khỏi nanh vuốt Trung Quốc. Những anh hùng như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung thời nào cũng có.

T.B.N.
Sept. 1, 2011

Trung Quốc

TRUNG QUỐC CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ VIỆT NAM: SẴN SÀNG GẠT BỎ MỌI SỰ QUẤY NHIỄU TẠI VIỆT NAM ?

Phamvietdao.net: Qua thông tin vừa đưa trên Đài CRI cho thấy: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc đã cho biết chuyến thăm Việt Nam sắp tới của ông Đới Bỉnh Quốc là nhắm mục đích can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; nhằm “gạt bỏ những sự quấy nhiễu” để “thúc đẩy quan hệ Trung-Việt vào quỹ đạo đúng đắn “ ?
Sự quấy nhiễu quan hệ Việt-Trung mà Trung Quốc tuyên bố "sẵn sàng gạt bỏ những quấy nhiễu..." phải chăng là của những cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc; hay những ý kiến phản biện có chừng mực, có lý có tình trên các trang mạng cá nhân? Hay Trung Quốc sẽ gạt bỏ vô hiệu những hành vi cắt cáp, tống tiền ngư dân Việt Nam của đám hải tặc Trung Hoa, ngừng đưa các tàu hải giám, tàu chiến vào sâu trong lãnh hải Việt Nam, đưa quân đội vào sát biên giới Việt Nam để tập trận... thưa ngài Mã Chiêu Húc?
Ngài tuyên bố sẽ đưa quan hệ Trung-Việt phát triển theo quỹ đạo đúng đắn? Thế thì từ bấy lâu nay, những động thái trên Biển Đông do phía Trung Quốc gây ra là đúng đắn cả hay sao? Việc các trang mạng Trung Quốc, các tướng lĩnh Trung Quốc hô hào sử dụng sức mạnh quân sự để đánh Việt Nam nên buộc lòng một số trí thứ, một số thanh niên Việt Nam phải xuống đường phản đối; theo ngài thì đó là hành vi quấy nhiễu quan hệ Trung-Việt của phía Việt Nam ư; hành động đó của phía Việt Nam là không đúng đắn ư ???
Không biết kẻ ngu đần này có hiểu sai “ thiện ý “ của ngài Mã Chiêu Húc không, rất mong được tiên sinh chỉ giáo: như thế nào là hành động quấy nhiễu, như thế nào là không đúng đắn để con dân đất Việt còn biết mà đề phòng ?

Trung Quốc sẵn sàng gạt bỏ mọi quấy nhiễu thúc đẩy quan hệ Trung-Việt phát triển theo quỹ đạo đúng đắn

Theo tin Đài chúng tôi: Ngày 1/9, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc cho biết, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc thăm Việt Nam sẽ gặp các Nhà lãnh đạo khoá mới của Việt Nam, Trung Quốc sẵn sàng nỗ lực cùng Việt Nam, tăng cường giao lưu hữu nghị, sâu sắc hợp tác thiết thực, gạt bỏ mọi quấy nhiễu, thúc đẩy quan hệ Trung-Việt mãi mãi phát triển lên phía trước theo quỹ đạo đúng đắn.
Ông Mã Chiêu Húc cho biết, quan hệ Trung-Việt hiện nay nhìn chung phát triển tốt đẹp. Trung Quốc tin tưởng rằng, chuyến thăm này sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển vững chắc và ổn định.

( Theo Đài CRI- http://vietnamese.cri.cn/421/2011/09/01/1s160935.htm)
------------------------------------------------------------
Tin thêm:

Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc sẽ thăm Việt Nam và đồng chủ trì phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác Trung Quốc-Việt Nam

2011-08-31 16:35:20     Xin Hua
Theo Tân Hoa xã: Ngày 31/8, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc tuyên bố, nhận lời mời của Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc sẽ thăm Việt Nam từ ngày 5-9/9, và cùng Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Trung-Việt.
( Nguồn: http://vietnamese.cri.cn/421/2011/08/31/181s160856.htm )