Bài đăng phổ biến

Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

Thương lượng với ban chấm giải

Trong hai tác phẩm dự giải thường Hồ Chí Minh 2011 của ông Hữu Thỉnh: một tập thơ dở và một tập trường ca phạm quy

Trần Mạnh Hảo (danlambao) - Bài viết này chúng tôi không nhằm nói về sự bất cập của các loại giải thưởng quốc doanh có tên là “Xin-cho” với quá nhiều tiêu cực đang được báo chí rầm rộ lên tiếng phê bình. Chúng tôi chỉ bàn đến một trường hợp cụ thể là nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, bí thư Đảng Đoàn hai tổ chức trên, đồng thời là thành viên chấm giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2011.

Hầu hết 10 nhà văn nhà thơ được xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 đều đã từng được giải thưởng nhà nước năm 2001. Những tác phẩm hay nhất của 10 vị này: Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Lê Lựu, Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Hồ Phương…đều đã được giải thưởng nhà nước năm 2001 hoặc sau đó. Nay chỉ còn những tác phẩm trung bình và kém cỏi của họ lại được đôn lên xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 thì quả là nghịch lý với tiêu chí giải thưởng. Chúng tôi sẽ lần lượt phê bình những tác phẩm khá dở và nhạt nhẽo của các vị trên được giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay trên các báo mạng trong và ngoài nước.

Nay xin xét trường hợp ông Hữu Thỉnh.

Ông Hữu Thỉnh là nhân vật chủ soái xét chọn những nhà văn được giải thưởng nhà nước và giải thưởng nhà văn năm nay, lẽ nào ông không biết quy định của nhà nước trong việc xét giải thưởng văn học nghệ thuật 2011:

- Những tác phẩm nào đã được giải thưởng nhà nước các năm trước, tuyệt nhiên không được đưa ra xét giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay.

Trong hai tác phẩm của ông Hữu Thỉnh đưa ra xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay, có một tác phẩm phạm quy.

Đó là tác phẩm “ Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh, do NXB Quân đội nhân dân ấn hành 2004. Trang 3 là trang bìa lót của tác phẩm này, dưới tiêu đề : “Trường ca Biển” có ghi rõ ràng như sau : “Tuyển trường ca đoạt giải văn học”. Tác phẩm : “ Trường ca Biển” này in gộp ba trường ca thành một cuốn sách : “Sức bền của đất”, “ Đường tới thành phố” và “ Trường ca biển”.

Trong lời nói đầu của NXB QĐND, in ở trang 5, có đoạn viết như sau : “Trường ca Đường tới thành phố đã được giải thưởng nhà nước đợt một năm 2001”. Trang 45 của cuốn sách in trường ca : “Đường tới thành phố”, có in kèm rằng : “Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 1980, Giải thưởng Nhà Nước đợt một -2001”.

Như vậy, rõ ràng ông Hữu Thỉnh đã phạm quy : ĐƯA MỘT TÁC PHẨM ĐÃ ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG NHÀ NƯỚC NĂM 2001 RA XÉT GIẢI THƯƠNG HỒ CHÍ MINH NĂM 2011.

Tập thơ thứ hai của ông Hữu Thỉnh đưa ra xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 là tập thơ dở và nhạt nhẽo vô cùng : “ Thương lượng với thời gian”.

Năm 2006, khi tập thơ này của ông Thỉnh được giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam, chúng tôi (tức TMH) đã viết bài phê bình tập thơ trên là dở và nhạt nhẽo, in trên nhiều trang mạng trong nước và hải ngoại, có tên: “Thương lượng với thời gian, hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng”. Bài phê bình của chúng tôi tung ra trước lễ trao giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam cả tháng trời mà tịnh không có ai trong ban giám khảo đã trao giải cho ông chánh chủ khảo Hữu Thỉnh lên tiếng bênh vực ông, cũng không hề có nhà phê bình quốc doanh nào lên tiếng phản bác bài của chúng tôi; đại loại rằng tập thơ này của anh Thỉnh hay lắm, rằng ông Hảo dốt nên không biết được cái hay mà thôi…

Ngày 30-11-2006, là ngày phát giải thưởng cho tập thơ “Thương lượng với thời gian” tại trụ sở Hội Nhà Văn Việt Nam; hình như sau bài phê bình của chúng tôi, ông Hữu Thỉnh có biết tập thơ mình dở và nhạt nhẽo, nên đã thức tỉnh lương tri, đột ngột xin rút cái giải thưởng mà chính ông đã cầm bút ký cho ông là tác phẩm: “Thương lượng với thời gian”.

Nay, không hiểu vì ý đồ gì ông Hữu Thỉnh lại dám cả gan đưa tập thơ mà ông thừa biết không xứng đáng nhận giải thưởng Hội nhà Văn năm 2006 ra để được trao giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 này, thì thử hỏi không còn giời đất gì nữa à ?

Chúng tôi buộc lòng phải trưng ra đây bài phê bình của mình về tập thơ này của ông Hữu Thỉnh : “Thương lượng với thời gian hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng” từng in trên các web 05 năm trước để quý bạn đọc phán xét.

Sài Gòn 30-8-2011



*

“THƯƠNG LƯỢNG VỚI THỜI GIAN” HAY THƯƠNG LƯỢNG VỚI HỘI ĐỒNG CHẤM GIẢI THƯỞNG…?

Tập thơ “Thương lượng với thời gian” (NXB Hội Nhà Văn – tái bản năm 2006) của nhà thơ Hữu Thỉnh vừa được giải thưởng văn học của Hội nhà Văn Việt Nam năm 2006 (cùng với tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư), đã phải “thương lượng với dư luận” trong nước một cách khá ác chiến. 

Mở đầu là bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Thơ nhà giải vườn” in trên báo Lao Động chủ nhật ngày 29-10-2006, lên án khá gay gắt khả năng vô tận “mẹ hát con khen hay” của ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh, đã tự mình thưởng thức 04 lần ăn “giải vườn” của “Thơ nhà”, trong 04 lần ông được giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam, kể cả giải thưởng “Vua Thái Lan” gọi là “giải Asean- 1000 USD” do ông tự phong mình lên giải - Ấy là chưa kể “Giải thưởng văn học Quốc gia” là 05 lần ông ăn giải, và nhiều “giải” khác do ông làm chủ tịch Hội đồng giám khảo, hoặc do chính ông tự đề cử “giải cho ông” trong một thành phần giám khảo do chính ông Hữu Thỉnh thiết kế ! Có thể gọi nhà thơ Hữu Thỉnh là một nhà “Giải… học” vì kỷ lục ăn giải văn chương của ông trong thời đại ngày nay là vô địch… thế giới . Vì bài viết phê phán ông Hữu Thỉnh của nhà văn Nguyễn Quang Thân rất hay, rất thâm thuý nên chúng tôi không thể trích vài dòng ra đây, đành in kèm sau bài viết này làm căn cứ để quý độc giả tham khảo.

Hữu Thỉnh – vua ăn giải văn chương Việt Nam hình như bị cái “dớp”: ăn xong tức bụng muốn ói ! Đó là lần ăn giải thưởng đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam của ông, cuốn trường ca “Đường tới thành phố” đã bị nhà thơ Xuân Diệu phê phán là dở vô cùng, là không biết làm thơ, là tào lao chi khươn ngay trên báo Văn Nghệ. Lần thứ hai ăn giải thưởng Hội Nhà Văn của ông Hữu Thỉnh là tập thơ “ Thư mùa đông” lại bị một “ngôi sao tiền chiến” khác là nhà văn Tô Hoài chê hết cỡ trên báo “Văn Nghệ” rằng : Thơ Hữu Thỉnh chỉ là một gánh đồng nát ( ve chai) !

Sau khi nhà văn Nguyễn Quang Thân lên tiếng phê ông Hữu Thỉnh “ăn tham, kiểu tự mình cho mình giải thưởng là vừa đá bóng vừa thổi còi, vừa lĩnh thưởng, vừa khen ban chấm giải … công minh”, nhân việc nhà thơ Ly Hoàng Ly từ chối nhận “tặng thưởng” của Hội nhà văn cho tập thơ “Lô Lô” của mình, xin quý vị xem ba nhà thơ ở Hội đồng thơ xét giải năm nay vừa cùng lên tiếng, như một cách phê phán chính ông Chủ tịch Hội Nhà Văn ăn giải nhất cuốn “ Thương lượng với thời gian”, chỉ vì do ông biết cách “Thương lượng” với Hội đồng xét giải thưởng chung khảo; vì “Bề… Hội đồng” này cũng do chính ông đề cử !

Nhà thơ Thanh Thảo, trên báo “Người Lao Động”, thứ sáu ngày 27-10-2006, viết như sau: “Ở hội đồng Thơ, thì số phiếu bỏ cho tập thơ “Lô Lô” của Ly Hoàng Ly cao hơn số phiếu bỏ cho tập thơ “Thương lượng với thời gian” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Chính tôi và nhà thơ Chim Trắng, khi được nhà thơ Nguyễn Đức Mậu yêu cầu bỏ phiếu qua điện thoại, đã nói thẳng quan điểm của chúng tôi: Không bỏ phiếu cho tập thơ Hữu Thỉnh vì thương quý bạn mình, không muốn anh Thỉnh phải rơi vào hoàn cảnh khó xử, khó ăn khó nói nếu anh lại được giải thưởng lần nữa (có người gọi là “hattrick-giải thưởng). Tiếc thay, việc đó đã xảy ra”

Nhà thơ Chim Trắng, một uỷ viên Hội đồng Thơ khác, cũng trên tờ báo vừa dẫn, viết : “…Tôi đã nói thẳng tôi không bỏ phiếu cho “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh. Vì tôi thương anh Thỉnh, anh đang làm Chủ tịch Hội, lại đã ba lần được giải trong và ngoài nước rồi (chính ra là 04 lần ông H.T. ăn giải do Hội Nhà Văn đề cử : thêm giải văn học Quốc gia- chú của TMH); “vừa đá bóng vừa thổi còi” là người ta dị nghị không hay. Giải thưởng lần này chẳng những không minh bạch mà còn không dân chủ”.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, một uỷ viên Hội đồng Thơ khác, đồng thời là Trưởng Ban Thơ báo Văn Nghệ, viết trên http://www.evan.com.vn như sau : “Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam không có được uy tín như giải của Hội nhà văn Hà Nội. Theo tôi thì có nhiều nguyên nhân. Một phần vì cuốn sách được giải không có sức thuyết phục, phần vì người ta nghi ngờ cách thức chấm và xét giải của Hội…” (http://www.evan.com.vnhttp://www.evan.com.vn/News/Home/)

Nhà văn Phan Hồng Giang, uỷ viên Hội đồng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006, viết trên báo “Thể thao & Văn hóa” số 126, ngày thứ bảy 21/10/2006 như sau : “Nói một cách công bằng, tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh được nhất trí cao của các thành viên trong Hội đồng, tất nhiên những mối quan hệ ngoài văn chương cũng rất khó tách bạch. Song cũng nên ghi nhận “ Thương lượng với thời gian” là một bước tiến trong thơ Hữu Thỉnh so với chính ông ấy. Còn so với mặt bằng thơ ca thì không có gì nổi trội…”

Thưa nhà văn Phan Hồng Giang, uỷ viên Hội đồng chung khảo xét giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006, nếu tập thơ “Thương lượng với thời gian” của nhà thơ kiêm Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, kiêm Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn, kiêm Tổng biên tập “Tạp chí Thơ” “KHÔNG CÓ GÌ NỔI TRỘI” SO VỚI MẶT BẰNG THI CA chung cả nước, thì vì sao tập thơ này lại được các vị trao giải thưởng số một ạ ? Hay là NÓ được giải vì như Phan tiên sinh viết ở trên là do “MỐI QUAN HỆ NGOÀI VĂN CHƯƠNG”, nói trắng ra là vì ông Chủ tịch Hội Nhà Văn đã cấu thành một Hội đồng chung khảo, rồi ông Chủ tịch “tế nhị, khách quan ?” xin rút khỏi hội đồng xét giải, sang phòng bên ngồi chờ “Bề… Hội đồng” vô tư chấm giải theo tiêu chí “THƯƠNG LƯỢNG” với “THỜI GIAN : nay tôi mai tới các ông” kiểu : “Trong nhà nhất mẹ nhì con/ Nay tôi được giải mai còn…các ông !” ? Xin hãy nhìn “BỀ… HỘI ĐỒNG” chung khảo năm nay xem bao nhiêu ông đã ẵm giải Hội Nhà Văn V.N., ẵm giải Quốc gia, ẵm giải “Vua Thái Lan- Asean 1000 USD” và sắp tới lần lượt các vị ‘bề hội đồng” này chắc như đinh đóng cột sẽ lần lượt được ông Chủ tịch trả ơn mà ban cho mưa móc giải thưởng văn chương tới số !

Chúng tôi xin phép được nói ngược lại lời nhà văn Phan Hồng Giang mà rằng: tập thơ “Thương lượng với thời gian” là một bước lùi, một sự xuống dốc không phanh về chất lượng thơ của thơ Hữu Thỉnh so với hai tập thơ được giải trước của ông : “Đường tới thành phố” và “Thư mùa đông”.

Trong cuộc đời làm thơ, viết văn, viết phê bình văn học mà tuổi nghề đã trên 40 năm, tôi chưa từng được vinh dự đọc một tập thơ nào mà lại nhạt nhẽo, sáo mòn như tập thơ “Thương lượng với thời gian” này của Hữu Thỉnh. Bằng tập thơ ăn giải nhất của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006 này, Hữu Thỉnh đã có thể trở thành người vô địch về khả năng nhạt nhẽo và sáo mòn, xứng đáng trở thanh nhà “NHẠT HỌC”, hay một “NHÀ SÁO HỌC, SẾN HỌC” của thơ ca Việt Nam. Chúng tôi xin lần lượt chứng minh.

Để cho những nhận định trên được khách quan, trước khi phân tích về cái thiên- tài-nhạt của tập thơ này, chúng tôi xin trích ra đây ba bài thơ : bài đầu tiên, bài có tiêu đề mà cả tập thơ mang tên và bài thơ cuối cùng của tập “Thương lượng với thời gian” để xin quý bạn đọc xem thơ này “nhạt” hay mặn”, “mới” hay “mòn cũ”

Đây là bài thơ đầu tiên trong tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh:

SANG THẾ KỶ

Sang thế kỷ với con tàu quá rộng
Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang

Tay vun cây và bão dập mùa màng
Sông ôm sóng cả bên bồi bên lở
Thương cảm, phản thùng, khoan dung, thớ lợ
Vé trên tay thanh thản bước lên tàu

Kẻ chậm chân có thể là mây nõn
Mải ngu ngơ với chim mới ra ràng
Kẻ chậm chân có thể là anh nữa
Trái tim cồng kềnh thơ phú đa mang

Cuối năm 1999

Chúng tôi xin mạn phép nhận xét bài thơ này : bài thơ này không có tứ hay, không có câu hay, không có triết lý bề sâu bề xa gì hết. Nhất định nó không phải là bài thơ khá, tuyệt nhiên không thể gọi là hay. Nhưng khốn nỗi, nó lại không dở. Giá nó dở thì ta đã còn mừng cho Hữu Thỉnh, vì làm bài thơ này dở thì biết đâu còn bài khác sẽ hay. Nhưng cái tội nhạt thì vô phương cứu chữa. Bài thơ này làm phiền người đọc vì nó nhạt, nhạt hơn nước ốc mà sao Hội đồng chấm giải Hội nhà văn lại cả gan khen chao ôi nước ốc ngon quá ? Truyện ""Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?" được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

Bài thơ có tiêu đề mang tên cả tập thơ :

THƯƠNG LƯỢNG VỚI THỜI GIAN

Buổi sáng lo kiếm sống
Buổi chiều tìm công danh
Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa

Tỉnh thức
Những hàng cây bật khóc
10-2005

Xin lạm bàn : bài thơ “triết lý” quá khiếp này không thể “CẢM” được, nên cũng chẳng “NHẬN” được thông điệp cao siêu bí hiểm nào của tác giả. Có lẽ Hữu Thỉnh bắt chước câu đố chết người của con Nhân Sư trong thần thoại Hi Lạp, rằng : “Con gì : Buổi sáng đi bốn chân/ Buổi trưa đi hai chân/ Buổi chiều đi ba chân ?” Nếu ai không giải được câu đố này : con đó là Con Người, thì Nhân Sư sẽ ăn thịt. Câu đố của con Nhân Sư xưa thiệt là sâu sắc, thiệt là hay ! Còn câu đố thơ trên của Hữu Thỉnh quả tình vớ vẩn, chẳng ra làm sao. May mà ông Hữu Thỉnh không phải là con Nhân Sư xưa, nếu không Hội đồng chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn ( và cả TMH) vì không sao giải được bài thơ trên, chắc chắn đã bị ăn thịt ! Gữa cái chuyện “Buổi sáng”, “Buổi chiều”, “Buổi tối” kia với cái sự “Tỉnh thức” thấy “Những hàng cây bật khóc” kia chẳng có mối “quan hệ nhân quả bên trong” hay “quan hệ nhân quả bên ngoài” nào với nhau để từ cái “đôn” này, mới kê được cái “khái quát” không đâu kia lên tầng tầng ý nghĩa; những món này là thi pháp “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hay thi pháp “ông nói gà bà nói thóc lép” của Hữu Thỉnh ? Chao ôi là “Những hàng cây bật khóc” : vì tự nhiên nó bị ông nhà thơ choàng tỉnh trong mơ điều tới đây, bơ vơ không biết để làm gì, hoặc có ý nghĩa gì ? Cây khóc, đất khóc, trời khóc, sông khóc, mèo khóc, sao khóc, khỉ khóc…là những motif quá sức mòn sáo mà chỉ những anh lười trong nghề làm thơ mới ưa lạm dụng ! Đây là bài thơ do “bệnh nhạt” mà sinh ra : anh đã bản chất nhạt, hồn nhạt, tài nhạt, chữ nhạt, ý nhạt, trí nhạt, giấy nhạt, giám khảo nhạt, giải nhạt… lại cứ muốn làm mặn mình bằng cách làm dáng trí thức, làm dáng uyên bác mà lên gân triết lý triết… lung… tung… beng thì chẳng còn gì thơ với chả phú ! Nhà thơ nhàn nhạt này trong trường hợp trên, chừng như khá giống như một ả bản chất vốn vô duyên mà lúc nào cũng thích thõng thẹo làm duyên vậy ? Truyện ""Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?" được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com) Truyện ""Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?" được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

Bài thơ cuối cùng của tập thơ “Thương lượng với thời gian” :

MỘT MÌNH

Xa em đói tiếng, đói hình
Trời xanh với chỉ một mình trời xanh
Nghe giờ nén nhớ trong anh
Gấp đêm làm gối chẳng thành giấc em

Tuyên Quang 2001

Xin lạm bàn : Bài lục bát bốn câu này cũng nằm trong “phong cách nhạt” của Hữu Thỉnh: không tứ độc đáo, không ý sâu xa, không có câu hay, câu thứ 04 cầu kỳ, sáo mới, còn gọi là sến… Ngoài ra, hai nhịp lục bát trên còn bị một sai phạm, một tối kỵ là lặp vần: cặp vần: “hình/mình” còn tiếp tục đồng vận với cặp vần sau: “xanh / anh / thành” mà một người mới tập tẹ làm thơ cũng cần phải biết để tránh. Câu thứ hai: “Trời xanh với chỉ một mình trời xanh” trên của Hữu Thỉnh là thoát thai từ câu ca dao: “Trúc xinh trúc đứng một mình cũng xinh” ! Truyện "Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng? được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)

Sau khi đọc đi đọc lại ba lần xong 56 bài thơ trong tập “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh , chúng tôi thấy có khoảng ngót bốn mươi bài “đại nhạt”, chừng ngót chục bài “nhạt vừa”, nể nang, đưa đẩy mãi mới tìm ra được năm bài khá khá, đọc được, ví như bài “Cung tháng chạp” trang 61, theo nhịp thất ngôn na ná lối thất ngôn mê đắm nơi bài “Thanh Xuân” của nữ thi sĩ Nhã Ca trong “Nhã Ca mới” xưa của Sài Gòn, được Hữu Thỉnh “mạ” lại “e thơ xưa” cho có vẻ bay bướm qua hơi thơ nữ tính vốn là sở trường của tập thơ “Thư mùa đông” trước kia của Hữu Thỉnh:

“Vạc mảnh bờ con cua mất quê
Rau đay làm lẽ buổi tôi về
Ổi đào lên tỉnh xem son phấn
Mẹ vẫn chờ em dóc mía de

Gió nảy đàn tre cung tháng chạp
Trăm câu không đỡ nổi câu tình
Em mang thiên lý về thưa mẹ
Sông vẫn ba đào trúc vẫn xinh”
1988

Bài “Xa vắng” cũng là bài thơ khá khá vì giàu xúc cảm và ngổn ngang trăn trở nỗi niềm… Nhưng với mấy bài thơ kha khá như vài hạt muối tẻo teo trên đây, liệu có thể cõng nổi cả một đại dương nhàn nhạt là toàn tập thơ chăng ?

Khắp cả tập thơ, đâu đâu ta cũng gặp những câu thơ sáo mới, còn gọi là sến, sống sượng, ngô nghê, giả tạo, khiên cưỡng, triết lý vớ vẩn… vô cùng nhiều, chỉ xin trích ra mấy câu làm bẳng, như sau : “Đến quả chín cũng phải cần vỏ bọc/ Hai đứa mình vừa bóc một lần yêu”(90), “Sóng còn lưu luyến sông” (73), “Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi/ Khiến cay đắng cũng nhuốm màu tha thứ” (59), “Trời đất lại bén duyên/ Mùa xuân lo dạm hỏi” (41), “Trẻ trung thế chỗ em rồi/ Thắm tươi thế chỗ thắm tươi thuở nào” (43), “Bánh trôi nước vỗ đường không gặp bóng”( 29), “Trưa cổ xưa hương đưa bảng lảng” (57), “Qua khu rừng có lời ca dẫn dắt” (87), “ Lật hạt gạo lại thấy em đang hát” (27), “Mẹ mong em vấp phải cầu vồng” (29), “Cho con lên an ủi mặt trăng buồn” ( 31), “Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi chơi với cây” (45), “Hoa hôm nay thay chủ nhà tiếp khách/ Một mùi hương thao thiết tới mai sau” (58), “Gió trên đường lai láng” ( 27), “Bí mật của trời trong/ Là tránh xa mây đục” (60), “Anh lầm lì như đất / Ai nói gì cứ nâu”(80), “Có con tàu mệt mỏi/ Thét còi trong tim anh”(94), “Em nhớ thương ơi/ Chúng ta sống vì nhau/ Chúng ta hát vì nhau/ Chúng ta buồn vì nhau/ Trời thấy vậy cho mùa xuân trở lại” (88)…

Hữu Thỉnh đã nhạt còn lười, viết nhiều câu thơ y chang câu nói tầm thường, lại thừa chữ vô tội vạ, chỉ xin lấy một ví dụ :

“Anh đã một lần chạm PHẢI mắt em
Chỉ lần ấy mà sao không gỡ nổi
Anh như MỘT đôi cánh chuồn chuồn
Bị chấm nhựa trong ngày tươi sáng ấy” (87)

Hai chữ : PHẢI và MỘT viết in hoa trên là hai từ thừa cần phải bỏ!

Trước khi chấm dứt bài phê bình này, chúng tôi xin nhờ may rủi, mở bất chợt một bài thơ nào đó trong tập thơ này của Hữu Thỉnh lên theo kiểu bói Kiều, để trích ra cho bớt tệ, bớt nhạt, bớt làng nhàng có cũng như không, đặng kiếm chút “cháo lá đa thơ” mà an ủi tác giả và an ủi cả Hội đồng giám khảo giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006, nhưng mở ngay vào bài thơ tệ vào hàng nhất tập là bài “ Thợ lặn cầu Thăng Long” trang 64, 65, 66, vừa đại nhạt lại đại dở, lại dài, sợ trích ra mà tra tấn quý vị bạn đọc thế này thì vô nhân đạo quá !

Chúng tôi xin chơi trò may rủi đợt hai mà bất chợt mở ra bài thơ khác, xem nó là bài gì ? A, bài “Gửi bạn triền sông” Hữu Thỉnh viết từ tháng 2-1981, một bài thơ “nhạt vừa”, “dở vừa”, “sáo vừa”; có đến ba phần tư số bài trong tập này của Hữu Thỉnh được xếp vào cùng loại với “Gửi bạn triền sông” ; chúng tôi dám thách đố cả một dân tộc Việt yêu thơ, nếu ai tìm thấy trong bài thơ này của Hữu Thỉnh một câu gọi là thơ, hay tìm ra ý nghĩa mỹ học, triết học sâu xa nào đó bên trong, thì từ nay Trần Mạnh Hảo xin thề sẽ chấm dứt viết phê bình thơ !

Bài thơ đó như sau :

GỬI BẠN TRIỀN SÔNG

Tặng Hường

Bạn trở về làm lụng dọc triền sông
Nước mấp mé mây vần, ô mạ trũng
Căn nhà đất ánh đèn dầu cuối xóm
Bạn đi về khuya sớm lo toan

Bạn trở về lấy vợ sinh con
Hạnh phúc nhỏ hai bàn tay che chúm
Lớp trẻ mới lớn lên. Bạn ngỡ ngàng kết bạn
Tâm sự nào áo lính vẫn sờn kia ?

Những khu rừng, những trận mạc đã qua
Giờ thấp thoáng sau cái vè cắm nước
Hạt lúa ta trồng mà mừng như bắt được
Những quả duối chín mòng trẻ lại ríu chân lên

Chiếc mũ cối bạc màu lại dậy sớm thức khuya 
Mưa tháng bảy tầm tầm bong bóng vỡ
Bạn lại được chuyện trò cùng tuổi nhỏ
Ếch mong mưa kêu váng ở sau đìa

Tất cả vẫn như xưa, tất cả lại bắt đầu
Đồng sau vụ đi đường cày thứ nhất
Bạn đã tập đi nghiêm, bạn đã tập đi đều và tập hát
Và bây giờ âu yếm giục trâu đi

Vĩnh Yên, 2-1981

Để nói lời sau cùng trước độc giả về “hiện tượng siêu giải thưởng” này, chúng tôi chỉ xin thông qua việc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ tư vừa trao giải thưởng năm 2006 cho tập thơ “đại nhạt”, đại vớ vẩn là tập thơ “Thương lượng với thời gian” của ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam là ông Hữu Thỉnh, chúng ta đủ thấy nền văn học Việt Nam do “Đảng ta” lãnh đạo đang đi về đâu ?



(bài của Trần Mạnh Hảo trong www.ykien.net)

Biên tập lại...

02/09/2011

Biên tập lại bài phát biểu của Tướng Vịnh

Tống văn Công
image Bài phát biểu của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh ở Trung Quốc, tuy đã được các báo trong nước biên tập bỏ bớt nhiều câu phản cảm, nhưng vẫn gây phản ứng xấu trong dư luận nhân dân Việt Nam vốn rất nhạy cảm đối với chủ quyền quốc gia.
Hồi Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2, nhiều người phẫn uất đòi Đảng, nhà nước ta vứt bỏ “16 chữ vàng” và quan hệ “4 tốt”. Lúc ấy, tôi có cho rằng không nên, vì “họ đưa ra ‘16 chữ vàng’ dù là để lừa bịp, nhưng ta nên nắm lấy để đòi hỏi hai bên thực hiện, cùng tôn trọng chủ quyền, bình đẳng hợp đồng kinh tế, trao đổi văn hóa…”.
Khi Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn sang Trung Quốc mang về bản Thông báo quá nhiều thiên lệch, nhiều người hỏi tôi: “Thấy chưa? Giữ “16 chữ vàng” lợi hay hại”? Tôi vẫn kiên trì cho rằng: “Lợi”! Nay lại thêm bài của Tướng Vịnh bị phản ứng. Dù vậy, tôi vẫn kiên trì quan điểm của mình, do đó mạn phép ông Trung tướng, biên tập lại bài phát biểu của ông, mong sẽ làm vừa ý quốc dân đồng bào! Sau đây là bài đã biên tập:
“Lịch sử quan hệ giữa hai nước và hai quân đội Việt Nam - Trung Quốc đã có nhiều trang rất tốt đẹp. Từ tháng 3 năm 1949, dù cuộc kháng chiến chống Pháp đang gay go, quyết liệt, nhưng đáp ứng yêu cầu giúp đỡ của Trung Quốc, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã cử quân sang giúp bạn xây dựng, phát triển lực lượng biên khu Việt Quế, Quế Lâm, Điền Quế… chuẩn bị đón đại quân Nam Hạ*. Sau khi giải phóng lục địa, từ 1950, Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc giúp đỡ hữu hiệu đối với Việt Nam kháng chiến.
Thật đáng tiếc, lịch sử quan hệ hai nước, hai quân đội chúng ta lại có những trang đen xen vào những trang vàng. Đó là cuộc chiến 1974 xâm chiếm Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam (lúc ấy do Chính quyền Sài Gòn quản lý); cuộc tấn công ồ ạt vào 6 tỉnh biên giới phía bắc Việt Nam năm 1979 để lại sự tàn phá rất khủng khiếp; rồi cuộc tập kích lên đảo Gạc Ma, thuộc Trường Sa khiến 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam bị giết chết mà không hề bắn trả!
Lãnh đạo Việt Nam đã chủ động tìm mọi cách khôi phục lại quan hệ hữu hảo “vừa là đồng chí,vừa là anh em”. Sau đó lãnh đạo Trung Quốc đưa ra nội dung “16 chữ vàng” và “4 tốt” được Đảng và nhà nước Việt Nam chân thành đón nhận và vận động nhân dân thực hiện. Thật vô cùng đáng tiếc, phải chi không xảy ra những vụ Bình Mình 2, Viking 2, không có những vụ bắn, bắt ngư dân Việt Nam đòi tiền chuộc… thì nhân dân Việt Nam chắc chắn đã bỏ qua quá khứ không vui, sẽ không phải bỏ cả vui chơi những sáng Chủ nhật yên bình, để kéo nhau đi biểu tình, kéo theo hằng ngàn cảnh sát cũng vất vả ngăn chặn, làm cho tình hữu nghị Việt-Trung bị tổn thương và làm cho “ý Đảng, lòng dân” Việt Nam bị so le bởi sự nhận định bạn hay thù đối với Trung Quốc! Nếu không có những chuyện như thế tái đi, tái lại thì chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ nhất trí với Đảng để nói rằng “NẾU CẦN SỰ ỦNG HỘ, ĐỒNG CẢM, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN THÌ CÒN AI HƠN MỘT NƯỚC LÁNG GIỀNG TRUNG QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”!
Trong cuộc gặp của Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn của chúng tôi sang Trung Quốc hai bên đã cùng thông qua bản Thông báo: “Tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và việc làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước”.
Phía Việt Nam đã hết sức tích cực thực hiện điều ấy. Các cuộc biểu tình ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đều bị trấn áp, đã để lại nhiều hình ảnh bị nhân dân trong nước và thế giới lên án là phản dân chủ. Nhà nước Việt Nam cố gắng im lặng trước việc làm sai trái của phía Trung Quốc như việc tổ chức khảo sát vùng biển từ Hoàng Sa đến Trường Sa suốt một tháng rưỡi. Chỉ đến khi Tân Hoa xã công bố việc khảo sát ấy thì người phát ngôn Việt Nam ở thế chẳng đặng đừng, đã phải lên tiếng phê phán rất nhẹ nhàng chuyện đã rồi!
Những vụ việc như thế chẳng những gây công phẫn trong nhân dân Việt Nam mà còn làm cho niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước Việt Nam giảm sút. Báo chí Việt Nam cũng triệt để tuân thủ Thông báo, đưa nhiều tin tức về sự phát triển tốt đẹp trong quan hệ hai nước. Trái lại, báo chí Trung Quốc không ngừng có bài viết gây hằn thù giữa hai dân tộc, hai Đảng, nhà nước như bài 10 lý do để đánh Việt Nam mà câu cuối của bài này là “Hãy giết chết bọn giặc Việt để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa”. Trên China News có bài về 6 cuộc chiến tranh trong 50 năm tới. Trong đó, dự định cuộc Chiến tranh thứ hai: Thu hồi các đảo tại biển Đông (Giai đoạn 2025-2030). Những ngày tháng 8 vừa qua, vẫn liên tiếp xảy ra các vụ bắt giữ tàu và người của ngư dân Việt Nam, đòi tiền chuộc.
Thử hỏi chúng tôi làm thế nào để có thể THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG KIÊN QUYẾT XỬ LÝ VẤN ĐỀ TỤ TẬP ĐÔNG NGƯỜI Ở VIỆT NAM VỚI TINH THẦN KHÔNG ĐỂ SƯ VIỆC TÁI DIỄN?
Các đồng chí Trung Quốc cho rằng, vấn đề giữa hai nước thì nên đàm phán song phương với nhau, không nên quốc tế hóa.Chúng tôi nghĩ như vậy cũng rất tốt, nhưng cốt yếu nhất là hai bên phải lắng nghe nhau.
Vấn đề chủ quyền Hoàng Sa chỉ liên quan hai nước chúng ta. Nhưng hiện nay các đồng chí lại cho rằng “Hoàng Sa là của Trung Quốc, không thể bàn cãi”. Nếu vậy thì làm sao để có đàm phán song phương đây? Và càng để lâu thì vấn đề này như vết thương khó lành trong quan hệ hai nước. Nếu chúng ta giải quyết êm đẹp vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông thì nhân dân Việt Nam sẽ hối thúc nhà nước của mình mau chóng ký kết hiệp ước liên minh với Trung Quốc, long trọng cùng nhau cam kết rằng “ĐÃ CÓ MỘT THỰC TẾ LÀ TRUNG QUỐC KHÔNG LẤY ĐẤT, LẤY BIỂN CỦA VIỆT NAM VÀ VIỆT NAM CŨNG KHÔNG BAO GIỜ NHƯỢNG BỘ (XIN BỎ BỚT BA TỪ “VÔ NGUYÊN TẮC”, VÌ DỄ GÂY HIỂU LẦM LÀ CŨNG CÓ SỰ NHƯỢNG BỘ ĐÚNG NGUYÊN TẮC!) VỀ CHỦ QUYỀN VÀ VIỆT NAM KHÔNG BAO GIỜ DỰA VÀO BẤT CỨ NƯỚC NÀO ĐỂ CHỐNG TRUNG QUỐC”.
Có lẽ với nội dung phát biểu như bài đã biên tập trên đây thì ông Tướng Vịnh không cần có thêm đoạn văn mù mờ này:
“Chúng ta cần làm cho nhân dân hai nước hiểu rõ, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn tồn tại vấn đề, nhưng hai Đảng, hai nhà nước đã cam kết xử lý bằng biện pháp hòa bình, theo luật pháp quốc tế, với giải pháp hai bên có thể chấp nhận được”.
Đoạn này hình như ông Vịnh nói chỉ để cho báo chí Việt Nam đăng lên nhằm trấn an người Việt đang quá bức xúc, chứ chẳng có ý nghĩa gì đối với phía Trung Quốc. Người nghe tinh ý sẽ thấy nó là lời hứa hão, không nêu được nội dung cụ thể cái “giải pháp hai bên có thể chấp nhận được” là những gì!
Trước đây, Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội và nay là tướng ba sao Mã Hiểu Thiên đều lặp lại câu có ý đe dọa ngầm: “Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại”.
Rất tiếc, phía ta chưa ai có câu nào ứng đáp nghe cho thỏa lòng dân! Họ sẽ còn nói những câu tương tự, mong ông Vịnh suy nghĩ để ứng đáp trong lần tới!
Ngày 1-9-2011
T.V.C.
(*) Tháng 3-1949, Đảng cộng sản Trung Quốc cử Trang Điền sang gặp Trung ương ta đề nghị cử quân đội sang giúp xây dựng biên khu chuẩn bị đón đại quân. Quân ta chia hai cánh, kéo sang Thủy Khẩu – Bằng Tường và Phòng Thành, tiêu diệt nhiều tiểu đoàn và 1 trung đoàn Quốc Dân Đảng. Trung tướng Nguyễn Ân của Việt Nam chỉ huy cánh quân vào Thủy Khẩu…
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Tàu hải quân Ấn Độ

03/09/2011

Báo chí Ấn Độ, Anh nói về vụ đối đầu giữa hải quân Ấn Ðộ, Trung Quốc ngoài khơi Việt Nam

VOA theo The Times of India, Financial Times, AFP
image Cũng liên quan tới quan hệ Việt-Trung, tờ The Times of India của Ấn Độ, số ra ngày thứ Sáu, cho biết Việt Nam ủng hộ Ấn Độ và hoan nghênh các tàu chiến của nước này tới hải phận của mình sau khi có tin nói rằng một chiến hạm Ấn Độ bị tàu Trung Quốc thách thức trong lúc đến thăm Việt Nam.
Bài báo trích lời Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ, ông Nguyễn Thanh Tân, nói rằng Việt Nam sẵn sàng chào đón các tàu của Ấn Độ đến vùng biển của mình.
Trước đó, một bài tường thuật của tờ Financial Times ở Anh cho hay một tàu chiến của Trung Quốc đã đòi chiến hạm INS Airavat của Ấn Độ trình báo danh tính và giải thích lý do có mặt trong vùng biển mà phía Trung Quốc tự cho là của họ.
Các giới chức Ấn Độ nói rằng vụ đối đầu diễn ra hôm 22 tháng 7 tại một nơi cách bờ biển Việt Nam 45 hải lý trong lúc chiếc tàu của Ấn Độ vừa kết thúc chuyến thăm cảng Nha Trang và đang trên đường tới cảng Hải Phòng.
Theo tờ Financial Times, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Ấn Độ Vishnu Prakash hôm thứ Năm cho biết một người tự xưng là “Hải quân Trung Quốc” đã liên lạc với chiến hạm của Ấn Độ qua làn sóng vô tuyến mở và nói rằng “quí vị đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.
Ông Prakash nói rằng nhân viên trên tàu INS Airavat không nhìn thấy tàu bè hay máy bay nào và đã tiếp tục cuộc hành trình.
Ông cũng khẳng định rằng hải quân của bất kỳ nước nào trên thế giới cũng đều có quyền thông qua những vùng biển này hay những vùng biển quốc tế. Ông nói thêm rằng việc tự cho mình là chủ và cản trở quyền thông qua của các nước khác là không thể chấp nhận được.
Tường thuật của Financial Times dẫn lời các nhà ngoại giao nước ngoài ở Việt Nam cho biết Hà Nội cũng bất bình trước hành động mà họ tin là một hành vi cố tình gây hấn của Bắc Kinh.
Các nhà ngoại giao nói rằng vụ đối đầu chứng tỏ là Trung Quốc tin rằng họ có quyền tuần tra ở biển Nam Trung Hoa mà Việt Nam gọi là Biển Đông.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết chiến hạm INS Airavat của Ấn Độ đến thăm Việt Nam từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 7, nhưng không có thông tin gì về vụ đối đầu.
Các Bộ Quốc phòng và Ngoại giao của Trung Quốc từ chối bình luận về việc này.
Nguồn: voanews.com

Hoan hô Cu Ba

04/09/2011

Hoan hô Cuba!

Nguyễn Quang Lập
clip_image002  
Kể từ khi chính thức lên thay thế người anh là Fidel để lãnh đạo Cuba, Raoul Castro (phải) không che giấu quyết tâm bài trừ bằng được nạn tham nhũng. REUTERS/Desmond Boylan
 
Mình đọc tin “Cuba liệt tham nhũng vào diện “phản cách mạng” mà mừng quá, cảm phục nữa. “Trong số hôm qua, 1/9/2011, nhật báo Granma, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Cuba, xác định rằng Nhà nước xem nạn tham nhũng như một “nhân tố phản cách mạng”… Theo bài báo, thì “Tham nhũng ngày nay là một kẻ thù mới của đất nước… phải thẳng tay diệt trừ từng trường hợp một, một cách minh bạch và kiên quyết ngay từ những dấu hiệu đầu tiên”.
Hoan hô Cuba đã xác định kẻ thù vô cùng đúng đắn. Nửa thế kỉ nay Cuba xác định kẻ thù của cách mạng Cuba là đế quốc Mỹ, càng xác định kẻ thù càng thấy cái thằng “kẻ thù khốn nạn” kia nó chẳng làm gì mình cả, trái lại nó toàn khuyên mình làm những gì mà thế giới văn minh đã làm, đang làm và sẽ làm, đó là nhân quyền và chống tham nhũng. Tiếc thay Cuba chẳng nghe, lại còn cho đó là sự tuyên truyền phản động, được lực lượng thù địch trong và ngoài nước tiếp tay.
Bây giờ thì khác rồi, Cuba đã khẳng định mạnh mẽ chính bọn tham nhũng mới là bọn phản động. Chúng mới là lũ chuyên quấy nhiễu và gây rối xã hội, chúng nó mới là lũ câu kết với nước ngoài  để phá hoại đất nước, bán rẻ Tổ quốc. Đích thị chúng nó, bọn tham nhũng, chứ không là ai khác.
Hoan hô Cuba! Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!
Chỉ còn một bước nữa thôi là Cuba sẽ bước tới con đường sáng, ấy là khi Cuba xác định cái cơ chế sinh ra tham nhũng có phải là cơ chế phản cách mạng hay không. Bây giờ còn hơi sớm để Cuba có thể tuyên bố điều này, nhưng hãy tin đi, nhất định Cuba sẽ đào mồ chôn cái cơ chế sinh ra tham nhũng đó, nhất định thế. Đấy xem, AFP kể: “Tháng Tư năm ngoái, giáo sư đại học Esteban Morales đã bị khai trừ khỏi đảng vì một bài viết của ông, trong đó ông khẳng định tham nhũng là yếu tố thực sự phản cách mạng, có tác hại lớn vì nó nằm ngay trong lòng chính quyền và guồng máy nhà nước. Ông Morales đã được phục hồi danh dự 3 tháng sau, vào tháng Bảy”.  He he, thế thì một bước nữa có đâu xa.
Ôi Cuba ơi, cảm phục Cuba lắm! Xin gửi tới Cuba mấy câu thơ nhại theo thơ Hoàng Lộc thế này: “Đứa nào hại anh đó / kẻ nào muốn giết anh / Khôn thiêng xin chỉ mặt / Gọi tên nó ra anh!
N.Q.L.
Nguồn: quechoa.info

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi

04/09/2011

Bước đầu suy nghĩ về văn học thời Mạc

clip_image001Nguyễn Huệ Chi
Vấn đề đánh giá Triều đại Mạc đã được đặt ra từ cách đây hơn hai thập kỷ rưỡi, chính thức vào dịp kỷ niệm danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm vào năm 1985 mà GS Nguyễn Huệ Chi là một trong những người đại diện Viện Văn học chủ trì cùng UBND thành phố Hải Phòng và Hội Sử học Hải Phòng. Nhưng việc đánh giá tổng quát văn học Triều đại Mạc có nét gì đặc sắc thì mới đặt ra vài năm gần đây, trong dịp con cháu nhà Mạc làm bộ phim “Tiếng kèn nhà Mạc” do ông Thái Kế Toại là Đạo diễn. Dưới đây xin gửi đến bạn đọc xa gần bài viết của GS Nguyễn Huệ Chi, bổ sung hoàn thiện những gì ông phát biểu trong bộ phim ấy, do phía con cháu họ Mạc bóc băng ghi lại.
Bauxite Việt Nam
Nói về văn học Mạc, về mặt khái niệm theo tôi phải giới thuyết xem văn học thời Mạc là cái gì? Tôi nghĩ, có thể tạm vạch ra mấy giới thuyết sau đây.
Trước hết về thời gian, nhà Mạc bắt đầu từ năm 1527 kéo dài đến mãi 1677 thì mới chấm dứt, thế nhưng lại có hai giai đoạn: Giai đoạn 1527 - 1592 nhà Mạc đóng đô ở Thăng Long và sau đó họ Trịnh đem binh ra, họ Mạc phải rút lên Cao Bằng. Ta nên khuôn lại trong giai đoạn thứ nhất, lúc bấy giờ sĩ tử quy tụ về Thăng Long rất nhiều và đó là điều kiện “nhân lực” chủ yếu làm nên văn học Mạc.
Xét về không gian, hãy để ý, thời đại này không phải chỉ có một trung tâm Thăng Long nữa mà đã có Nguyễn Hoàng chạy vào Nam, định cư ở Phú Xuân, có Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm tìm đường trung hưng nhà Lê ở Thanh Hóa. Cho nên thực tế, đất nước đã chia làm mấy trung tâm. Thế thì nói đến văn học thời đại Mạc là nói đến nền văn học trong phạm vi không gian do nhà Mạc quản lý với trung tâm Thăng Long, còn các không gian khác không những văn học Mạc không với tới đã đành, ngay những người như Phùng Khắc Khoan, mặc dù là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm nhưng sau đó lại vào Thanh Hóa thi với nhà Lê và sáng tác dưới sự chỉ đạo của Triều đình Lê, ví thử đặt ông vào nội hàm văn học Mạc cũng sẽ là khiên cưỡng.
Xét về lực lượng sáng tác, có mấy hiện tượng đáng quan tâm.
Hiện tượng thứ nhất là khi Mạc Đăng Dung 莫 登 庸lên ngôi (1527), quyền uy cả nước thu về tay ông. Sức hút của Mạc Đăng Dung rất lớn, “Bấy giờ thần dân trong nước đều theo Mạc Đăng Dung, đều đón [ông] vào Kinh sư. Ngày15 [tháng Sáu] các quan đã đứng vào ban chầu, chưa có tờ chiếu nhường ngôi, các quan bảo Lại bộ Thượng thư Trương Phu Duyệt thảo ra”([1]); vì thế trừ một số ít, gần như quan lại của nhà Lê đều quay sang thần phục Mạc và sáng tác dưới ảnh hưởng của nhà Mạc. Những người như Nguyễn Giản Thanh là Trạng nguyên nhà Lê cũng trở thành vị quan lớn trong Triều đình Mạc. Không thể không coi họ là lực lượng sáng tác song hành, trước của Lê và sau của Mạc. Cũng thế, về cuối thời nhà Mạc lại có những ông quan chức vị khá lớn, thờ Mạc hết lòng, như Hoàng Sĩ Khải, nhưng khi Mạc chạy lên Cao Bằng bèn quay sang thờ Lê. Tất nhiên ta không thể xếp họ Hoàng sang hàng ngũ nhà văn Lê Trung hưng một cách giản đơn mà phải căn cứ trên tác phẩm cụ thể để coi đấy là nhà văn của Mạc hay của Lê, vì sách của Hoàng Sĩ Khải hiện còn hầu như đều là sách viết dưới triều đại Mạc.
Sau khi thanh toán xong hai loại người “xôi đỗ” ấy rồi, lực lượng chính làm nên văn học triều đại Mạc, theo tôi là những Nho sĩ đã thi đỗ ngay dưới triều nhà Mạc, và lực lượng này không phải ít. Từ năm 1527 đến 1592 Mạc đã mở 21 khoa thi Hội, lấy đỗ 468 Tiến sĩ và 11 Trạng nguyên. Nếu như so sánh với thời Lê sơ thì ngoại trừ nửa đầu thế kỷ XV là thời kỳ chống Minh xâm lược không thể tính, nửa cuối thế kỷ, dưới triều Hồng Đức (1460 - 1497), trong vòng 38 năm có 12 kỳ thi chọn được 501 Tiến sĩ và 9 Trạng nguyên([2]). Trong tương quan 65 năm của nhà Mạc và ngót 40 năm của triều Lê Thánh Tông, Mạc không thua kém Lê nhiều lắm trong việc đào tạo một đội ngũ trí thức cho Triều đình và xã hội. Chỉ có khác là ở chỗ, dưới triều đại Mạc, trong hàng ngũ trí thức thi đỗ thường phân ra làm hai. Một bộ phận sau khi đỗ, nhập cuộc, làm quan ở Kinh đô và các trấn. Một bộ phận khác không tham gia triều chính mà về làng quê làm ẩn sĩ. Họ cũng là lớp người cầm bút, nhiều người nổi tiếng. Cho nên có thể nói, có hai thành phần làm nên văn học Mạc là thành phần Nho sĩ quan liêu và thành phần Nho sĩ ẩn dật([3]). Lực lượng sáng tác tạo nên nền văn học Mạc chủ yếu tập trung vào hai thành phần ấy. Có đối chiếu cặn kẽ thế ta mới có ít nhiều cứ liệu để nhìn nhận bước tiếp nối của văn học Mạc kế sau văn học Lê sơ. Tất nhiên, văn học Lê sơ hơn văn học Mạc ở chỗ thời đại Lê sơ không chỉ có sáng tác, nó còn ý thức được nhiệm vụ “phục hưng” văn hoá dân tộc. Trong vòng năm mươi năm, nhiều tuyển tập đủ các thể loại đã liên tiếp xuất hiện, tổng kết được thành tựu của 500 năm trước. Mạc không có điều kiện làm được việc này, trừ một tập Ứng đáp bang giao của Giáp Hải.
Điều thiệt thòi cho nhà Mạc là giai đoạn thật sự bình ổn không được lâu. Do không thẳng tay với dòng dõi nhà Lê như Trần Thủ Độ đã làm với nhà Lý, nên chỉ sau khi dựng nghiệp ít năm, đám triều thần thủ cựu của nhà Lê liền âm thầm nhen nhóm lại thế lực, giương ngọn cờ phục hưng Lê và đánh lại Mạc để giành lại quyền chấp chính, gây nên tình trạng hỗn loạn, nơm nớp không yên, không ai đủ bình tâm để tìm cảm hứng cho ngòi bút sáng tạo, mặc dù về kinh tế và xã hội, Mạc đã tạo ra được một không khí thịnh trị từ thành thị đến thôn quê, chính sử gia nhà Lê cũng phải thừa nhận: “Mạc có lệnh cấm trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đấy, người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng điểm soát một lần, hoặc có sinh đẻ cũng không thể biết là vật của nhà mình. Trong khoảng vài năm, đường sá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên”([4]).
Những lực lượng làm nên cuộc “phục tích” quyết không coi Mạc là triều đại chính thống, họ cố tình xoá bỏ mọi thành tựu của nhà Mạc để lại, kể cả thành tựu văn học. Và các sử quan của nhà Lê Trung hưng viết về nhà Mạc cũng viết với thái độ thành kiến có sẵn, nên không thể viết đến nơi đến chốn. Thơ văn, học giả, tác gia của triều đại Mạc còn lại trong sử sách không nhiều như con số dưới thời Lê sơ một phần cũng vì lẽ ấy. Dầu sao, cứ nhìn cho kỹ, triều đại Lê sơ cũng không còn lại bao nhiêu. Có Lý Tử Tấn (李 子 晉, 1378 - 1457), Nguyễn Mộng Tuân (阮 夢 荀, ? - ?), Vũ Mộng Nguyên (武 夢 原, 1380 - ?), Phan Phu Tiên (? - ?), Nguyễn Bảo (阮 保, 1452 - ?), Thái Thuận (蔡 順, 1441 - ?), Đặng Minh Khiêm (鄧 鳴 謙, ? - ?), Vũ Quỳnh (武 瓊, 1452 - 1516), Hoàng Đức Lương (黃 德 良, ? - ?)... một tập thơ của Tao đàn nhị thập bát tú. Nhưng nhìn chung, để có thể thấy rõ được giá trị thì nổi bật lên có ba người. Đó là một Nguyễn Trãi (阮 廌, 1380 - 1442) như đỉnh cao của nửa đầu thế kỷ XV. Một Lê Thánh Tông (黎 聖 宗, 1442 - 1497) như đỉnh cao của nửa cuối thế kỷ XV. Một Thái Thuận (蔡 順, 1441 - ?) như người vắt ngang giữa hai đầu thế kỷ. Triều Lê sơ nói cho cùng cũng chỉ có thế.
Triều Mạc cũng lưu lại được một số văn nhân nổi tiếng như Nguyễn Giản Thanh (阮 簡 清, 1481 - ?) với bài Phụng thành xuân sắc phú, mặc dù sáng tác cuối triều Lê sơ nhưng tác phẩm ấy thực ra ca ngợi thành Phụng trong bước chuyển đổi cung cách sinh hoạt từ Lê - nặng tiểu nông - sang Mạc - công thương nẩy nở. Ông lại còn có Thương côn châu ngọc tập mà bây giờ không còn nữa. Bùi Vịnh (裴 clip_image003, 1498 - 1545) đỗ Bảng nhãn năm 1532 có Đế đô hình thắng phú (chữ Hán), Cung Trung bảo huấn phú (chữ Nôm). Lê Quang Bí (黎 光 賁, 1506 - ?) đỗ Hoàng giáp năm 1526, ra làm quan với nhà Mạc rồi đi sứ Trung Quốc, bị lưu đày ở Trung Quốc 18 năm. Trong suốt thời gian ở Trung Quốc ngồi ngẫm nghĩ lại tất cả những nhân vật lịch sử nước nhà, ông viết được một tập thơ ghi nhớ công ơn các danh nhân đất nước và bày tỏ tình cảm đối với quê hương, hiện vẫn còn([5]). Lại có người nổi danh về văn học ngoại giao như Giáp Hải (甲 海,1515? - 1585?), Trạng nguyên làng Dĩnh Kế. Thành tích lớn của ông là vận dụng thơ văn vào công việc bang giao giữa nước ta và Trung Quốc. Theo truyền thuyết, ông đã lên tận ải Nam Quan đối đáp với tướng nhà Minh Mao Bá Ôn (毛 伯 溫, 1487 - 1544). Bằng bài thơ Vịnh bèo, Mao Bá Ôn muốn đưa ra một thông điệp thách thức. Nhưng Giáp Hải đã kịp hoá giải những lời đe doạ ngầm của y bằng bài hoạ, nói lên cái thế “ken khít với nhau” của cả dân tộc Việt Nam như một mặt bèo phủ kín ao nước. Mao Bá Ôn cảm nhận được nhân tài nước Nam còn nhiều, cuối cùng đành lui binh([6]). Giáp Hải còn có tập Ứng đáp bang giao, một tập hợp văn, thư, biểu trong các cuộc bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc nhiều đời, một tác phẩm đáng quý, tiếc chưa thể tìm lại được. Nguyễn Hãng (阮 沆, 1488 - ?), đỗ Bảng nhãn năm 1529, làm quan cho Mạc đến chức Thị lang, Hàn lâm học sĩ rồi nhất quyết lui về xứ Tuyên Quang làm một danh sĩ làng quê. Tuy nhiên, ông cũng không đi theo những kẻ chống Mạc, cho dù họ cố nài. Từ chỗ ở ẩn ông lập thành một tao đàn sáng tác phú Nôm và trở thành ông tổ của phú Nôm thời Mạc với nhiều bài phú rất hay, chuyển ngôn ngữ khoa trương ngả sang trào tiếu, như: Tịch cư ninh thể phú, Đại Đồng phong cảnh phú, Tam ngung động phú… Cũng thế, Nguyễn Thế Nghi (阮 世 儀, ? - ?) là người rất “sở trường về văn chương quốc âm”, có bài phú Nôm Huyền Quang tiễn đưa cung nữ, lại có truyện Nôm Lạc Xương phân kính, đặc biệt, ông là người đầu tiên dám thể nghiệm dịch áng văn xuôi chữ Hán nổi tiếng đương thời Truyền kỳ mạn lục ra văn xuôi Nôm, và bản dịch của ông được in đi in lại nhiều lần, hiện còn lưu truyền([7]). Hoàng Sỹ Khải (黃 士 愷, ? - ?) đậu Tiến sĩ 1544, có đến mấy tập thơ như Sứ Bắc quốc ngữ tập, Sứ trình khúc, Tứ thời khúc vịnh và bài phú Tiểu độc lạc. Hoàng Sỹ Khải là người mở đầu cho việc làm thơ Nôm khi đi sứ. Hà Nhậm Đại (何 任 大, 1526 - ?) đậu Tiến sĩ 1574, người để lại tập thơ vịnh sử Khiếu vịnh thi tập([8]). Ngoài ra còn có thể kể đến Phạm Thiệu (范 紹, 1512 - ?), dỗ Hoàng giáp năm 1553, có Thi vận tập yếu, Vũ Cận (武 瑾, 1527 - ?), dỗ Tiến sĩ năm 1556, có tập thơ đi sứ Tinh thiều kỷ hành, đều được ghi lại trong “Nghệ văn chí” của Lê Quý Đôn,... Nếu so sánh những nhà văn hạng trung của Lê sơ với những nhà văn hạng trung của Mạc thì sự cách biệt giữa hai bên chưa hẳn đã nhiều. Văn học thời Mạc từ một cái nền như vậy đã kết tinh được hai đỉnh kiệt xuất.
Đỉnh thứ nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm (阮 秉 謙, 1491 - 1585). Ông là một nhà văn hóa, và riêng ở bình diện văn hóa mà nói thì tầm vóc không thua kém Nguyễn Trãi là mấy, phần nào đấy còn khai phá vào một vài lĩnh vực sâu hơn. Bởi ông chuyên về Dịch học. Chính ông xây dựng nền tảng của tư tưởng biện chứng trong Kinh Dịch, góp vào lịch sử tư tưởng Việt Nam một số kiến giải mới mẻ. Là một nhà Dịch học nên ông nổi tiếng là bậc tiên tri, nhưng ông cũng lại là một nhà thơ lớn. Ông viết đến một nghìn bài thơ chữ Hán. Đây là con số mà từ thời đại Mạc trở về trước hoàn toàn chưa có. Đến như Nguyễn Trãi cũng chỉ có 105 bài (không nói về tầm vóc, thơ Nguyễn Trãi kết tinh những tư tưởng nghệ thuật đột xuất, thể hiện một cái “tôi” thao thức trước những vấn đề có thể nói là vấn nạn lịch sử, chắc chắn về số lượng thơ ông đã bị mất mát nhiều nhưng không rõ nếu còn thì có đến 1.000 bài hay không). Lê Thánh Tông tuy tỏ rõ tài năng hùng hậu về thơ, đề tài lại đa dạng, song đứng về số lượng, so với Nguyễn Bỉnh Khiêm hẳn vẫn không bằng. Bên cạnh thơ chữ Hán, thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng rất dồi dào. Thơ Nôm ông có mặt không thể sánh với thơ Nôm Nguyễn Trãi, lại có mặt đánh dấu một chặng phát triển mới so với thơ Nguyễn Trãi. Rất may mắn cho chúng ta, hiện nay đã tìm được khoảng 800 bài thơ chữ Hán, 180 bài thơ Nôm của ông. Đây là một đỉnh cao của văn học triều đại Mạc.
Đỉnh thứ hai là Nguyễn Dữ (阮 嶼, ? - ?). Ông là một người không ra làm quan mặc dù thi đỗ Hương cống và là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm([9]). Trong thời kỳ ở ẩn ông đã viết được một tập truyện xuất sắc. Đó là Truyền kỳ mạn lục được đời sau gọi là thiên cổ kỳ bút - ngọn bút kỳ tài nghìn thu không có. Tập truyện này mở ra một thể loại văn xuôi nghệ thuật dân tộc là truyện ngắn truyền kỳ. Ở Việt Nam, văn xuôi, nhất là văn xuôi nghệ thuật, vốn định hình muộn hơn thơ, nhưng đến Nguyễn Dữ không hiểu vì lẽ gì đã tạo được một sự đột phá khiến văn giới sửng sốt ngạc nhiên mà mãi nhiều thế kỷ sau cũng không theo kịp.
Như vậy Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Dữ là hai nhà văn tầm cỡ của văn học thế kỷ XVI, của văn học Mạc, không thua kém bất kỳ đỉnh nào từ trước cho đến đấy và từ đấy về sau. Đứng về mặt khái quát chung, văn học triều đại Mạc là một nền văn học không nhỏ, nó xứng đáng đóng một vai trò đáng kể trong lịch sử văn học Việt Nam.
Nói về đặc điểm của văn học Mạc thì cần có một vài giới thuyết trước khi bàn vào các biểu hiện cụ thể của nó. Ở đây chỉ nhấn mạnh đến những đặc điểm mà văn học Mạc góp vào tiến trình văn học chung như là những nhân tố mới, còn tất cả mọi đặc điểm vốn đã có trong văn học truyền thống, thời Mạc vẫn kế tục, như phát huy tinh thần yêu nước, hoặc hoàn thiện thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, v.v. thì không cần đề cập quá sâu, vì sự tiếp nối là một quy luật chung cho nhiều thời đại. Đối với đề tài văn học yêu nước, văn học thời Mạc không những không để cho tàn lụi mà lại biết mở rộng phạm vi từ thơ sang truyện, áp dụng thủ pháp nghệ thuật truyền kỳ làm cho nó có thêm sức sống. Chỉ lấy hai dẫn chứng từ Nguyễn Dữ: truyện Chức Phán sự đền Tản Viên là cuộc đấu tranh kiên cường của một Nho sinh nhằm giành lại vị trí chủ nhân cho ông Phán sự người Việt trụ trì ở ngôi đền Tản Viên, vạch trần trò ma mãnh hiếp đáp của con quỷ đến chiếm đền vốn là một bộ tướng của Mộc Thạnh bị chết trận tại nước ta, cuối cùng giành phần thắng về cho ông Phán hiền lành. Hay như truyện Lệ Nương khắc hoạ số phận một cặp tình nhân bị chia lìa, vai nữ chịu nhiều oan khổ, cuối cùng chết trong tay bọn giặc Minh sang xâm lược, về sau người yêu Lệ Nương đã tìm đến đầu quân cho Lê Lợi lập nên nhiều chiến công trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Rõ ràng tinh thần chủ nghĩa yêu nước đã được ngòi bút Nguyễn Dữ hoá thân vào nghệ thuật tiểu thuyết. Và dòng văn học yêu nước như một đặc điểm xuyên suốt lịch sử văn học dân tộc, đến Mạc vẫn không mất đi. Không chỉ thế, văn học Mạc còn có thêm những đóng góp khác, phát triển được các thể loại mang cảm hứng hồi cố (Lê quang Bí), hay âm hưởng sử thi (Hà Nhậm Đại), để tiếp nối dòng văn học này.
Thế nhưng chúng ta cần cân nhắc kỹ hơn mấy đặc điểm có thể gọi là mới của văn học triều Mạc sau đây.
Thứ nhất, nhìn trong xu thế chung, văn học Việt Nam có một yêu cầu nội tại để tạo nên bước nhảy vọt thật sự kể từ thế kỷ XVI trở đi, dấu mốc nhảy vọt ấy rơi đúng vào văn học triều đại Mạc. Đây là cái ngẫu nhiên mà cũng là cái tất yếu của lịch sử. Thời đại Lê sơ là đỉnh cao của độc tôn Nho giáo và thể chế quân chủ tập trung, phải chọn một vị vua làm biểu tượng để cho dân tôn thờ, thần thánh hoá, đặc điểm chung của văn học bởi vậy là hướng thượng. Phải quay nhìn lên ông vua và lấy ông vua làm hình mẫu, đem cảm hứng “vua sáng tôi hiền” kết nối thành động lực sáng tác. Đến triều đại Mạc, sau bao nhiêu chặng “vua quỷ”, “vua lợn” của triều Lê sơ làm người ta chán nản, tự nhiên hình tượng cao quý là ông vua bị lu mờ, bị hạ thấp từ trong tiềm thức. Và cảm hứng “thần thánh hoá” đấng minh quân mất dần chỗ đứng. Người ta không còn hào hứng ngẩng lên, “hướng thượng”, trong sáng tác của mình. Tình trạng này gây ra một phản ứng trái ngược trong vô thức: người sáng tác bắt đầu từ chỗ nhìn lên nay quay nhìn trở xuống. Và khi nhìn xuống hạ dân thì một thế giới khác chợt hiện rõ trong tầm mắt. Họ bỗng nhìn thấy con người với bao nhiêu sự phức tạp, thánh thiện có mà tầm thường càng có, ở chính đối tượng gần gũi nhất với mình ấy. Con người được phơi bày với những dục vọng, toan tính, những nét thấp hèn và cao cả, những tình cảm riêng tư, cá nhân. Đó chính là một phát hiện lớn của văn học thời Mạc, mở đầu cho một dòng văn học chạm chân vào hiện thực. Văn học thay đổi chức năng mà không tự biết: nó mô tả xã hội dưới góc nhìn đời tư và đời thường. Trước đây, Thông qua tiêu chí “cái cao cả”, nhà văn nhìn xã hội dầu không muốn cũng như được đánh bóng lên, được ước lệ hoá, công thức hoá, mỹ hoá thành một xã hội vàng son song trừu tượng, đâu cũng như nhau. Nhưng bây giờ nhìn vào khía cạnh đời tư đời thường thì cũng xã hội ấy lại hiện ra dưới muôn hình vạn trạng, nó đưa lại cho nhận thức thẩm mỹ rất nhiều giá trị, rõ nhất là trong tập truyện ngắn Truyền kỳ mạn lục. Truyện Người nghĩa phụ ở Khoái Châu cho thấy Trọng Quỳ là con nhà danh giá nhưng bị tha hoá trở thành một anh phá gia chi tử, nướng gia tài vào cuộc đỏ đen. Anh ta đánh bạc đến nỗi phải gán vợ khiến vợ phải tự tử để giữ tròn chữ tiết của mình. Truyện Người con gái đất Nam Xương thì nói đến một anh chàng ghen tuông. Đi lính xa trở về nổi cơn ghen, dò hỏi con, làm tình làm tội khiến vợ phải trẫm mình. Truyện Nghiệp oan của Đào Thị là câu chuyện trả thù đầy oan nghiệt của một người cung nữ nhan sắc, thông tuệ, khi vua chết bị thải ra khỏi cung cấm, đến chơi nhà ông quan Hành khiển là người quen biết cũ bị bà vợ của quan đánh một trận thừa sống thiếu chết vì ngờ vực nàng tư tình với chồng. Từ đấy nàng tìm mọi cách trả thù, nhưng trước thế lực của kẻ giàu sang quyền thế, mưu kế của nàng chỉ mua lấy thất bại, đến nỗi tan nát tấm thân,... Hóa ra, dưới góc độ đời tư và đời thường, cả một thế giới phơi bày, trong đó không phải là những hình mẫu bất động, chỉ biết tuân theo theo các công thức “quân thần, phụ tử, phu phụ... ” của đạo Nho cho sẵn, mà là một thế giới chuyển động rất sống động với nhiều tấn bi hài kịch của con người khó lòng dò đoán trước. Ngòi bút nhà văn giờ đây khám phá ra vô số chân lý sống xưa kia chưa hề nhìn thấy.
Đương nhiên nói con người là trung tâm của thế giới mà văn học thời này phát hiện thì cũng chính là nói đến cái xã hôi hạ dân được văn học vén màn, bởi con người nói trong văn học Mạc là biểu trưng cho xã hội ấy. Đó là đặc điểm thứ hai. Cả một xã hội phức tạp hiện ra dưới ngòi bút nhà văn. Nó không thuần nhất là xã hội nông nghiệp nữa mà bắt đầu có buôn bán, có thủ công, có làm giàu, và có đủ thứ lục đục xoay quanh nó, có cuộc đấu tranh giữa quyền lực và không có quyền lực, giữa ham muốn và bất lực. Không loại trừ cuộc đấu tranh muôn thuở về đạo đức giữa cái thiện và cái ác. Một xã hội phong phú hơn nhiều so với bức tranh xã hội thời Lê sơ mà văn học để lại.
Tính quy định vẻ đẹp tức là cái sắc màu sống thực của thời đại này phản chiếu trong văn học, thể hiện tiêu biểu ở tập truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ cũng chuyển cả sang thơ, làm cho thơ ca mang một phương thức tư duy mới. Trước đây thơ là thơ trữ tình. Thơ bây giờ cũng là thơ trữ tình nhưng là trữ tình- lý trí. Nó rời bỏ tư duy cảm tính bước sang địa hạt tư duy lý tính. Và hướng cái nhìn vào xã hội, ấy là tư duy thế sự. Thơ trở nên có tính phát hiện hiện thực rất sắc mà cây bút tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Ở thế làm chi cười lẫn nhau,
Giàu chê khó, khó chê giàu.
Người hàng thịt nguýt người hàng cá,
Đứa bán bò dèm đứa bán trâu.
Bé vú thở than người cả vú,
ít râu ánh ỏi kẻ nhiều râu.
(Thơ Nôm, bài 112)([10])
Chúng ta thấy phong cách tư duy nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khác Nguyễn Trãi. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn sâu vào các ngóc ngách của xã hội để nhận diện bức tranh phức tạp của xã hội. Bức tranh ấy diễn ra một cách tự nhiên bởi nó là bức tranh xã hội có thực.
Vì tư duy thế sự nên nhìn được vào tâm lý con người rất sâu:
- Giàu trọng, sang yêu, khó chẳng vì.
Nhị kết hoa thơm, ong đến đỗ,
Mỡ bùi mật ngọt, kiến nào đi.
Thanh tao, của có, thanh tao bấy,
Náo nức, tay không, náo nức gì?
Mặc rủi, mặc may, khi gặp dịp,
Khen chi, chê bấy, ghét mà chi.
(Thơ Nôm, bài 82)
- Người ta bằng mặt chẳng bằng lòng,
Đo đắn cho hay sự sá phòng.
Lưỡi thế gẫm xem, mềm tựa lạt,
Miệng người toan lại, sắc như chông.
(Thơ Nôm, bài 127)
Đặc điểm thứ ba là do cái nhìn thế sự, cái nhìn khám phá tâm lý sâu sắc, do xã hội phức tạp, có công, có thương, buôn bán phát triển, nên văn học nhìn thấy tiếng va xiết của đồng tiền. Đây chính là giai đoạn bắt đầu nói đến vai trò của đồng tiền. Cũng chính Nguyễn Bỉnh Khiêm xác nhận vai trò đồng tiền như một tiếng động lạ, vang lên cái âm thanh đáng sợ của nó:
Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền
(Thơ Nôm, bài 5)
Đồng tiền hiện ra với tất cả vẻ quỷ quyệt khinh người. Nó có đủ sức mạnh làm tha hóa xã hội. Nhưng bên cạnh đó nó cũng có mặt tích cực mà Nguyễn Bỉnh Khiêm có nói đến: “Kẻ khó nhờ ơn, có kẻ giàu” (Thơ Nôm, bài 59). Trong Nguyễn Dữ, Trọng Quỳ vì đánh bạc mà phải gán vợ chứng tỏ vai trò của đồng tiền đã tác động đến nhiều mặt đời sống, chi phối hạnh phúc con người.
Một đặc điểm nữa của văn học thời Mạc không thể không đề cập là nó đa thanh, không chỉ một giọng. Phải ở thời kỳ một bậc thánh minh ở tận trên cao, còn mọi người đều nem nép ngưỡng lên nhìn thì mới là văn học một giọng. Còn bây giờ bậc thánh minh đã được hạ xuống rồi và con người nhìn cuộc đời bằng cái nhìn bình đẳng, tự chủ, nhìn thẳng vào nó thì không còn văn học một giọng nữa mà phải là giọng của đối thoại. Tính đối thoại xác lập màu sắc dân chủ của văn học, và chính triều đại Mạc mang lại cho văn học. Trong Truyền kỳ mạn lục, Hồ Tông Thốc khi đi sứ sang Trung Quốc ghé đền Hạng Vũ trên hồ Động Đình làm một bài thơ có ý chê trách Hạng Vương 5 năm ngang dọc cuối cùng phải chết. Đêm đó bộ hạ của Hạng Vũ nổi lên triệu ông này xuống nước. Thế nhưng không phải triệu xuống để trừng phạt như các truyện dân gian khác, mà là triệu xuống để tổ chức cuộc đối thoại giữa Hạng Vũ với Hồ Tông Thốc. Trong khi Hạng Vũ ca ngợi mình, khẳng định mình đã làm nên nhiều công nghiệp lớn không kém gì nhà Hán thì Hồ Tông Thốc chỉ nhấn có một điểm thôi. Ông làm được rất nhiều chuyện thật, nhưng chuyện chữ nhân thì ông thiếu. Chính đó là cái thiếu lớn nhất và làm cho ông sụp đổ. Hạng Vũ nghe đến đâu mặt tái đi đến đấy. Nhưng có một người bộ hạ của Hạng ở bên cạnh, muốn cãi cho chủ bèn bàn góp vào, rằng: nói như Hồ thực ra cũng chưa thật thoả đáng, bởi Hán Cao Tổ chữ nhân cũng đâu có - Hán Cao Tổ đã giết rất nhiều nhân mạng và tàn bạo còn bằng mấy, chứ Hạng Vương vẫn được Ngu Cơ tuẫn tiết theo mình, nghĩa là còn có người yêu mình đến cùng. Cuối cùng Hồ Tông Thốc cũng thừa nhận điểm khả thủ đó của họ Hạng. Phải nhìn Hạng Vũ như thế mới thật công bằng. Quả tình ở đây đã diễn ra một cuộc đối thoại dân chủ và nhà văn để cho người đọc từ trong đối thoại mà tự mình tìm ra chân lý. Không thể nói khác rằng đây chính là một cống hiến đáng kể của văn học thời Mạc.
Đặc điểm cuối cùng góp thêm sức nặng cho văn học Mạc là thời đại này đã bước đầu xây dựng nên hình tượng con người tự do. Ở thời đại Lê sơ vì lực hút của Triều đình phong kiến, Nho giáo độc tôn mạnh, nên gần như hút về tâm là quỹ đạo chủ đạo. Đến một Nguyễn Trãi vĩ đại là thế mà khi bị ruồng rẫy về Côn Sơn bao giờ lòng cũng đau đáu nghĩ đến vương triều, hễ được vời ra thì ra lại ngay. Đến thế kỷ XVIII lại có một hiện tượng ngược lại là người ta bỏ chạy khỏi Triều đình, bỏ chạy để về sống ẩn, chỉ có mình với mình. Đây là thời đại ly tâm. Vào thời đại Mạc thế kỷ XVI thì khác, người ta không bị hút về tâm nữa nhưng cũng không hẳn ly tâm, nhờ đó tạo nên chính sự tự chủ cho người thức giả. Mình muốn ra thì ra, muốn về thì về, biểu trưng rõ nhất là Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thi với Mạc rồi sau 7 năm, thấy cần phải xuất thế ông bèn chủ động rút lui, bấy giờ Mạc vẫn chưa suy thoái. Về một thời gian ông lại ra giúp. Chính phong thái thung dung chủ động kia đã tạo nên tiếng nói tự do, tự tại trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và thơ văn của rất nhiều người như Nguyễn Hãng, Nguyễn Dữ… Dòng mạch tư duy tự do tự tại quy tụ nên hình tượng con người không bị lệ thuộc trăm phần trăm vào quyền lực nữa mà ít hay nhiều đã là con người giải thoát. Cần phải thừa nhận rằng trong cái nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có một phương diện gọi là tự tại. Nhàn ở đây không là ẩn, chưa phải xã hội thối nát đến mức mình không thể chấp nhận nổi mà trở về chăm nom vài luống cúc, hoặc lẩn trốn vào cửa Thiền, hoặc tìm quên trong thú vui cần câu, chén rượu. Nhàn, bởi mình cảm thấy phải làm chủ cuộc sống của mình, cho nên tự mình trở về an nhàn nghỉ ngơi. Nhưng khi nhà Mạc kêu gọi đi đánh bọn phản loạn thì Nguyễn lại hăng hái ra giúp. Nhàn trong trường hợp này là nhàn tự tại. Nhàn tự tại chính là nét khác với nhàn ở nhiều thời đại khác là thứ nhàn chỉ muốn lánh đục, lánh Triều đình, “dũng thoái”. Nhàn tự tại không cố chấp mà hồn nhiên hơn.
Trở lên là mấy đặc điểm về mặt nội dung của văn học triều đại Mạc. Còn nói đến đặc điểm về mặt nghệ thuật, thì văn học thời này cũng có một số hiện tượng mới, không thể bỏ qua. Thơ Nôm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự thừa kế Nguyễn Trãi và về một mặt nào đấy còn được nâng lên. Thơ Hán có những thể tài mà Nguyễn Bỉnh Khiêm phải làm một bài dài đến 300 câu mới diễn đạt hết ý, như bài Thương loạn. Thơ chữ Hán do đó cũng ít nhiều có biến chuyển khác trước. Quan trọng hơn cả là thể truyện được thể nghiệm từ những tập truyện buổi đầu vào thời Lý - Trần, lượm lặt từng mẩu thần tích và truyền thuyết dân gian, rồi đến thời Lê sơ, tập Thánh Tông di thảo đã nhanh chóng thoát khỏi cái vỏ thần tích, trở thành một tập truyện có kết cấu chặt chẽ, cốt truyện nhiều tình tiết gắn bó móc xích, vẫn là truyện kể nhưng cá biệt có nút thắt đưa đến cao trào. Và sang thời Mạc thì bỗng kết tinh được một tập truyện cổ điển là Truyền kỳ mạn lục, về hình thức có thể so sánh với bất kỳ tập truyện truyền kỳ xuất sắc nào ở phương Đông. Ngoài ra, phú Nôm cũng là một thể loại nở rộ và mang một sắc thái khác trước. Phú Nôm hầu như không còn giọng khoa trương, trang trọng, ca ngợi đấng chí tôn, trái lại chuyển xuống cung bậc bình dân, giọng trào lộng len lỏi dần vào ngôn từ mực thước, lời lẽ thông tục được bác học hoá. Có thể nói phú Nôm thời Mạc đánh dấu bước đặt nền móng khá căn bản của ngôn từ tiếng Việt trong thể phú Việt Nam. Ngoài phú Nôm, còn có những tập truyện dài, truyện Nôm đã bắt đầu xuất hiện mà Tô công phụng sứ là một trong những tác phẩm có khả năng ra đời vào thời Mạc, bởi nó gắn bó với câu chuyện Lê Quang Bí đi sứ đến 18 năm. Tập truyện Nôm này kể về một nhân vật Trung Hoa đời Hán cũng đi sứ đến 19 năm dưới hình thức những bài thơ độc thoại nội tâm, dễ ngờ rằng chính Lê Quang Bí là tác giả. Dù sao, đây vẫn là dạng truyện Nôm tập hợp các bài thơ Đường luật chứ chưa có truyện Nôm lục bát - hay nếu có như Lạc Xương phân kính cũng đã mất - tuy rằng lục bát và song thất lục bát đã có mặt, bởi vì Hoàng Sĩ Khải đã viết cả một bài Tứ thời khúc vịnh bằng song thất lục bát…
Vậy xét về thể loại, thời Mạc có những bước tiến, có những đóng góp cụ thể.
Nói chung, với những nguồn tư liệu mới được phát hiện từ mấy chục năm nay, với các phương pháp tiếp cận hiện đại giúp cho ta có một cái nhìn nhiều chiều cạnh so với trước, với không ít đổi mới trong cách đánh giá Vương triều Mạc trong lịch sử, văn học thời Mạc cũng cần được xem xét lại thật thích đáng, là một thời đại văn học đáng kể cả về số lượng cũng như thành tựu nội dung và nghệ thuật. Điều rất có ý nghĩa là văn học dưới thời đại Mạc đã xuất lộ một số yếu tố đánh dấu sự chuyển biến đúng hướng của văn học dân tộc ngày càng tiến gần đến hai khuynh hướng bình dân và hiện thực.
Tuy nhiên, do biến động của thời đại, do sự đối xử hẹp hòi của nhà Lê Trung hưng sau đó, do sự nghèo nàn về tư liệu, sự thụ động của nhiều nhà nghiên cứu hiện đại, văn học Mạc đã bị đối xử không công bằng, chưa được xếp đúng vị trí của nó trong các giáo trình, sách giáo khoa, công trình khảo cứu văn học...
Cùng với chiều hướng đang thay đổi trong cách nhận thức lại nhà Mạc của giới sử học nước nhà, giới nghiên cứu văn học còn có nhiều việc phải làm để khôi phục diện mạo cho văn học thời Mạc và xem xét các giá trị của nó đối với tiến trình phát triển của văn học dân tộc.
Tháng 6 - 2009 - Tháng 8 - 2011
N.H.C.
(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập IV, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội in lần thứ hai, H., 1973; tr. 118.
(2) Theo Bùi Duy Tân trong Văn học Việt Nam - Thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Tập II, 1979, Sđd; tr. 24 thì còn một lực lượng sáng tác phải kể đến là Nho sĩ bình dân.
(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập IV, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội in lần thứ hai, H., 1973; tr. 126
(4) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập IV, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội in lần thứ hai, H., 1973; tr. 126.
(5) Nay còn lại 66 bài, được người đời sau chép chung trong tập sách mang tiêu đề Tư hương vận lục 思 鄉 韻� 錄›. A. 699.)
(6) Những điều nói ở trên chỉ là truyền thuyết, chính sử không ghi. Nếu tính niên đại thì năm Giáp Ngọ (1534) là năm Mao Bá Ôn đem quân áp át biên giới, Giáp Hải vẫn chưa đi thi. Bốn năm sau ông mới đỗ Trạng nguyên. Nhưng Mao Bá Ôn vẫn còn ở bên kia biên giới, mãi đến 1541 mới dâng biểu về Yên Kinh phong chức cho Mạc Đăng Dung, vậy nên rất có thể Giáp Hải sau khi thi đỗ đã được sung vào công việc ngoại giao vất vả của Triều đình Mạc thuở bấy giờ và có giao thiệp với Mao Bá Ôn. Hai bài thơ xướng hoạ như sau. Xướng: Tuỳ điền trục thuỷ mạc ương châm - Đáo xứ khan lai thực bất thâm - Không hữu căn miêu không hữu diệp - Cảm sinh chi tiết, cảm sinh tâm - Đồ chi tụ xứ ninh chi tán - Đãn thức phù thời ná thức trầm - Đại để trung thiên phong khí ác - Tảo quy hồ hải tiện nan tầm (Mọc theo ruộng nước hóp như kim - Trôi dạt lênh đênh chẳng đứng im - Nào có gốc sâu, nào có lá - Dám sinh cành nhánh, dám sinh tim - Tụ rồi đã chắc không tan tác - Nổi đó nào hay chẳng đắm chìm - Đến lúc trời cao bùng gió dữ - Quét về hồ bể hẳn khôn tìm). Hoạ: Cẩm lâm mật mật bất dung châm - Đái diệp liên căn khởi kế thâm - Thường dữ bạch vân tranh thuỷ diện - Khẳng giao hồng nhật truỵ ba tâm - Thiên trùng lãng đả thành nan phá - Vạn trận phong xuy vĩnh bất trầm - Đa thiểu ngư long tàng giá lý - Thái công vô kế hạ câu tầm (Ken dày vải gấm khó luồn kim - Rễ lá liền nhau, động vẫn im - Tranh với bóng mây che mặt nước - Chẳng cho tia nắng rọi xuyên tim - Sóng dồi muôn lớp thường không vỡ - Gió táp ngàn cơn cũng chẳng chìm - Nào cá nào rồng trong ấy ẩn - Cần câu Lã Vọng biết đâu tìm) (Theo Vĩ nhân Online: Giáp Hải - Bài thơ Vịnh bèo).
(7) Dựa theo ghi chép trong Công dư tiệp ký, phần Tục biên của Trần Quý Nha 陳 季 衙, A. 44. Bản dịch Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Thế Nghi hiện còn lưu dưới tên Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 新 編 傳 奇 漫 錄 增 補 解 音 集註, Xã trưởng xã Liễu Chàng khắc bản vào năm Cảnh Hưng 35 (1774). ).
(8) Hiện còn tập thơ mang tên Lê triều khiếu vịnh thi tập. A. 315, gồm 88 bài. Hai chữ “Lê triều” là do người sau đặt thêm, cũng phản ánh tâm lý bài Mạc, bởi Hà Nhậm Đại chỉ vịnh các nhân vật lịch sử thời Lê sơ.
(9) Nhưng cũng có thuyết cho ông là người cùng thế hệ chứ không phải học trò.
(10) Các bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trích trong bài này đều được đánh số thứ tự theo sách Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Văn học, H., 1983.

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Nhà văn Nguyên Ngọc và Anh Hùng Núp

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC CÓ BỊ ĐÁM PHẢN ĐỘNG KÍCH ĐỘNG, GIẬT DÂY ?

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC ( 1 )

Nhà văn Nguyên Ngọc và anh hùng Núp...

Trần Đăng Khoa.

Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng ngày 1 tháng 9 năm 2000. Tại Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, đã diễn ra một nghi lễ long trọng: Trao tặng Huân chương Độc lập vì những cống hiến to lớn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cho 5 nhà văn xuất sắc: Hải Triều, Thanh Tịnh, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi và Nguyên Ngọc. Trong số 5 nhà văn rất nổi tiếng này, chỉ có mỗi Nguyên Ngọc là còn sống. Nhưng ông lại không có mặt. Nhiều người tỏ ra băn khoăn. Một nhà văn bảo tôi: “Cái ông Nguyên Ngọc này buồn cười thật. Cứ khụng khà khụng khiệng. Khó chịu quá”. “Hình như anh Ngọc đi vắng.”. “Vắng đâu. Về rồi. Về mà vẫn không chịu đến! Cha này xem ra không được!”.
Thật oan cho Nguyên Ngọc.
Khi Hội Nhà văn tổ chức đón nhận Huân chương Độc lập cho ông thì ông vẫn còn lặn lội ở cơ sở cách mạng vùng ngoại ô thành phố Đà Nẵng. Ông hoàn toàn không biết có sự kiện này. Báo tin cho ông ngay trong buổi chiều hôm ấy lại là những độc giả của ông ở Đà Nẵng. Họ tíu tít đến chúc mùng ông. Anh Giám đốc khách sạn Non Nước còn mang lẵng hoa đến tặng ông. Nguyên Ngọc rất cảm động vì tấm lòng thương yêu quý trọng của độc giả giành cho mình. Xem chừng họ còn vui hơn cả ông khi ông được Nhà nước ghi nhận về sự cống hiến to lớn trong cả một đời cầm súng và cầm bút.

Chiều 7-9- 2000, Nguyên Ngọc về đến Hà Nội thì sáng ngày 8-9, nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó Tổng thư ký cùng nhà thơ Nguyễn Hoa, cán bộ Tổ chức Hội, thay mặt Ban Chấp hành đã đến tận nhà trao ông Huân chương Độc lập hạng nhì của Nhà nước cùng với lẵng hoa của Hội nhà văn. Phó Tổng thư ký Nguyễn Trí Huân còn thông báo cho ông biết, ông có 7 triệu đồng tiền đầu tư sáng tác.
- Ồ, cái đó thì mình không nhận đâu.
Nguyên Ngọc lắc đầu. Nhà văn Nguyễn Trí Huân cười điềm đạm:
- Đây là lộc chung thôi anh ạ. Lộc của Nhà nước mà!
- Lộc nào của Nhà nước. Tiền đóng thuế của dân đấy. Mình không nhận đâu!
- Mọi người đều nhận cả bác ạ - Tôi chen vào - Nhà văn mình khổ quá. Nhà nước tạo điều kiện thêm để ngồi làm tác phẩm. Em cũng đã nhận mấy triệu. Mọi người cũng đều nhận cả. Bác không nhận, thế bằng bác bỉ chúng em à?
- Không! không! - Nguyên Ngọc vội vã xua tay - Cái này là tuỳ quan niệm của mỗi người thôi. Mình viết được cái gì thì “bán” cho Nhà xuất bản lấy tiền rồi. Sao bây giờ lại còn lấy tiền của dân nữa?. Số tiền ấy mình không nhận đâu. Huân đừng mang đến nhé!
Nguyên Ngọc lại từ chối. Như mấy lần đầu tư trước đây, ông cũng kiên quyết từ chối. Ở Hội Nhà văn hiện nay, chỉ có mỗi Nguyên Ngọc là chưa nhận tiền tài trợ lần nào. Mà ông “gàn” lắm! Cực đoan lắm. Có người bảo, Nguyên Ngọc đã quyết cái gì thì không ai có thể ngăn cản nổi. Có túm tay ông kéo lại thì lập tức ông hoá thành anh La Văn Cầu, rút mã tấu chặt phéng ngay cái cánh tay bị níu giữ ấy mà xông lên. Việc từ chối tiền đầu tư cũng thế. Tôi biết Nguyên Ngọc rất nghèo. Số lương hưu của hai vợ chồng ông có đáng là bao. Nguyên Ngọc lại đi thực tế liên miên, mà đi xa, đi tự túc. Tính ông lại khảnh. Đã thế ông lại không chịu viết tạp. Thế thì làm sao mà có được tiền. Một lần nhà văn Nguyễn Thị Như Trang đến thăm ông, thấy trên mâm chỏng trơ hai cái xoong. Một xoong cơm, một xoong canh. Thức ăn không cho ra bát. Người ăn cứ múc thẳng từ nồi. Đấy là lối ăn theo kiểu thời chiến của lính trận. Chiến tranh đã kết thúc cách đây hơn một phần tư thế kỷ rồi, vậy mà Nguyên Ngọc vẫn chưa ra khỏi cuộc chiến. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn không biết đi xe máy, cũng không biết đi cả xe đạp. Cứ túc tắc cuốc bộ. Và ông bước phăm phắp như lính cắt rừng.
- Sao tôi được nhận Huân chương Độc lập hạng nhì mà Nguyễn Thi lại chỉ hạng ba. Nguyễn Thi phải hơn tôi chứ. Tôi so với anh Thi sao được ?
Nguyên Ngọc tỏ ra rất băn khoăn. Nguyễn Trí Huân chỉ còn biết nở nụ cười của Phật bà Quan âm. Bởi điều ấy nằm ngoài tầm tay Hội Nhà văn rồi. Có lẽ Ban Thi đua Khen thưởng Nhà nước cứ chiểu theo Quy chế, căn cứ vào độ dài của thời gian phục vụ trong chiến trường. Nguyễn Trọng Oánh và Nguyên Ngọc lặn lội trong lửa đạn suốt hơn chục năm trời, hết chiến tranh mới ra Bắc. Còn Nguyễn Thi thì ngay từ năm 1968, ông đã hy sinh rồi. Nguyễn Thi ở chiến trường mới được có bốn năm. Còn cả một đời, Nguyễn Thi nằm trong lòng đất và đến nay vẫn không tìm thấy hài cốt ở đâu…
Nguyên Ngọc ngồi lặng. Gương mặt đượm buồn. Ông và Nguyễn Thi cùng đi B một ngày. Bấy giờ, Nguyên Ngọc đi nhẹ nhàng lắm, vì ông chưa có vợ con. Còn Nguyễn Thi thì đã có vợ. Người vợ trẻ của ông lại vừa sinh con trai đầu lòng. Nhà thơ Vũ Cao còn nhớ buổi chia tay Nguyễn Thi. Bữa đó, ông rủ Nguyễn Thi ra phố. Ông muốn mời bạn ăn một bát phở bò. Nhà văn thời đó nghèo xơ xác. Trong túi Vũ Cao cũng chỉ đủ số tiền cho một bát phở thôi. Chả lẽ chỉ bạn ăn, còn mình thì ngồi suông ngắm bạn? Hình như cũng hiểu được nỗi băn khoăn của Vũ Cao, Nguyễn Thi bảo ông chỉ thèm khoai lang luộc thôi. Trời, tưởng gì, chứ khoai lang thì rẻ lắm. Số tiền trong túi Vũ Cao đủ để hai ông ăn no khoai lang. Thế là họ ngồi sụp xuống bên đường, làm một đĩa khoai mật.
Tối ấy, Nguyễn Thi về nhà từ biệt vợ con. Vợ ông chỉ lặng lẽ lau nước mắt còn thằng bé mới đẻ thì khóc ré lên. Nguyễn Thi đùng đùng quay ra rồi phăm phăm bước thẳng, không ngoái đầu lại, mặt tái ngắt, trông rất ghê sợ, cứ như sắp sửa chém giết ai đó. Vũ Cao biết nếu chỉ quay nhìn lại vợ con, cửa nhà, chắc Nguyễn Thi sẽ không thể đi nổi.
Đêm ấy, Nguyên Ngọc và Nguyễn Thi lên tàu ở ga Thường Tín. Rồi họ vượt rừng, lội suối, luồn dọc Trường Sơn hàng mấy tháng trời. Đến A Sầu, A Lưới thì chia tay nhau. Đêm chia tay, họ còn giăng võng, nằm bên nhau trong một khu rừng xà nu. Khu rừng này đã thành nỗi ám ảnh đối với Nguyên Ngọc. Đêm ấy, mọi người còn mời một đồng chí ở cơ sở đến nói cho anh em mới vào nghe chuyện chiến trường. Đồng chí cán bộ đó không thể nói được gì, vì suốt mấy năm ở đây, ông chưa bao giờ được đứng trước một đám đông như thế. Trời ơi! Chỉ có 5 người thôi mà đã thành một đám đông. Nguyễn Thi bảo: “Tình hình thế này là ác liệt đấy. Chúng mình vào đây mà làm nhà văn thì vô duyên quá! Kỳ cục quá! Phải sống đã. Cầm súng đánh giặc đã rồi làm nhà văn sau. Chúng mình chỉ trở lại Hà Nội bằng con đường số Một.”
Câu nói như một lời nguyền. Và rồi họ đã thực hiện đúng như thế. Nguyễn Thi xuôi về Nam Bộ. Nguyên Ngọc xuống khu Năm. Đấy là những vùng chiến trường rất đỗi khốc liệt. Năm 1968, Nguyễn Thi hy sinh trong một trận chiến đấu . Ông ngã xuống như một người anh hùng. Còn Nguyên Ngọc thì sau chiến tranh, ông mới trở lại Hà Nội bằng đúng con đường số Một.
 II
Cũng như Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc vào chiến trường khi đã là một nhà văn nổi tiếng.Tác phẩm đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết Đất nước đứng lên, viết về anh hùng Núp. Cuốn sách vừa ra đời đã có tiếng vang lớn. Và cũng từ đấy hình thành một lối viết của Nguyên Ngọc theo kiểu Nguyên Ngọc. Lối viết này quán xuyến suốt một đời cầm bút của ông và có ảnh hưởng tới nhiều nhà văn sau ông. Đó là viết về người thật việc thật và người tốt việc tốt. Nhân vật của Nguyên Ngọc đều bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thật trong cuộc sống chiến đấu của nhân dân mà ông từng tham dự. Sau tiểu thuyết Đất nước đứng lên, là tập truyện ngắn Rẻo cao. Đây mới thật sự là kiệt tác của Nguyên Ngọc. Tập sách rất mỏng, chỉ phong phanh chừng một trăm trang, gồm có sáu truyện ngắn, mà truyện nào cũng đặc sắc. Bây giờ đọc lại vẫn còn thấy rất hay, vẫn không cũ. Hay nhất trong tập là truyện ngắn Rẻo cao. Đây cũng là cái truyện viết tài nhất trong đời văn Nguyên Ngọc. Truyện không có cốt, tóm tắt rất nhạt. Vì nó chẳng có gì cả. Nguyên Ngọc kể về một ông già người Mèo có tên là Cắm. Ông bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, mải việc nước đến quên cả lấy vợ. Về già, không còn đủ sức đi nữa thì ông về quê, “làm cách mạng” ở quê. Công việc của ông là chuyển thư từ, báo Đảng xuống các làng bản. Ông không biết chữ, nên thằng cháu ruột của ông, một anh chàng bưu tá huyện đã phải đánh dấu cho ông bằng những sợi chỉ xanh, chỉ đỏ. Chỉ xanh là ông Lý A Pù. Chỉ đỏ là ông Ma Văn Keo, xóm Nà Thăn. Thế là ông cắt rừng đi ngay trong đêm. Với chất liệu như thế, chỉ đủ để viết một cái tin vắn, mà tin cũng nhạt phèo, khó mà đọc được.Vậy mà Nguyên Ngọc dựng được thành một cái truyện ngắn đặc sắc, đọc hấp dẫn và thấm thía. Ông còn cho nhân vật của mình ghếch súng vào vai, ngồi nghe hết tờ báo Nhân Dân, rồi ông còn chép nguyên cả cái dự báo thời tiết trên báo Nhân Dân vào trong cái truyện vốn đã rất ngắn của mình: “Ở miền Bắc nước ta hôm nay trời quang và nắng. Riêng vùng núi phía Bắc và Tây bắc Bắc bộ, trời ít mây, thỉnh thoảng có mưa nhỏ rải rác ở một vài nơi...”. Thế rồi sau cái dự báo thời tiết này, là bát ngát một cảnh sắc của rừng đêm Tây bắc được nhìn qua con mắt của ông già Cắm. Phải nói đó là những trang văn hay. Văn Nguyên Ngọc là thứ văn trong, sánh như mật ong, lại đượm ướp một làn hương rất đặc biệt. Đọc cứ bàng hoàng váng vất mãi. Nguyên Ngọc hơn người ở tài văn. Không có thực tài, không thể viết được thế.
Nhân vật của Nguyên Ngọc đều là những người tốt. Trong chuyện Dũng cảm, cô giáo Tuyết, người Hà Nội đã bỏ Thủ đô, bỏ cả người yêu, xung phong lên miền núi dạy học. Cô hết lòng yêu thương các em. Cô biết mình sẽ gắn bó lâu dài với các em, cô không thể bỏ các em mà về xuôi được. Rồi có lần hai em bé người Dao vắng mặt. Không biết các em ốm đau hay làm sao. Cô cùng một em bé người Nùng băng rừng vượt hàng chục cây số xuống bản. Rừng đối với cô là một thế giới đầy bí ẩn. Nguyên Ngọc cũng qua con mắt của cô giáo vùng xuôi, cho chúng ta những trang tả rừng rất đặc sắc. Cô giáo xuống bản, mới hay học trò của mình không ốm. Ông bố cho các em đi làm công tác cách mạng. Ấy là dẫn đường cho các chú địa chất dò tìm tài nguyên cho đất nước. Thế là người tốt lại gặp những người tốt. Đọc truyện của Nguyên Ngọc, cứ tưng bừng như đi dự một Đại hội Chiến sĩ Thi đua.
Lần giở những trang sách của Nguyên Ngọc, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đến Tố Hữu và Phạm Tuyên. Cũng như thơ Tố Hữu, ca khúc Phạm Tuyên, Nguyên Ngọc viết văn bằng hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng. Ông bám sát các vấn đề lớn của chính trị, phục vụ trực tiếp các nhiêm vụ chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh hoạ, vẫn thành tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Không ít tác phẩm có giá trị lâu dài. Những vấn đề lớn mà Tố Hữu quan tâm cũng là những vấn đề Nguyên Ngọc đề cập đến trong hầu hết các sáng tác của mình. Tố Hữu viết:
Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau