Bài đăng phổ biến

Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

Thiên đô chiếu

                                                              
                                                    遷都詔

昔商家至盤庚五遷。周室迨成王三徙。豈三代之數君徇于己私。妄自遷徙。以其圖大宅中。為億万世子孫之計。上謹天命。下因民志。苟有便輒改。故國祚延長。風俗富阜。而丁黎二家。乃徇己私。忽天命。罔蹈商周之跡。常安厥邑于茲。致世代弗長。算數短促。百姓耗損。万物失宜。朕甚痛之。不得不徙。
況高王故都大羅城。宅天地區域之中。得龍蟠虎踞之勢。正南北東西之位。便江山向背之宜。其地廣而坦平。厥土高而爽塏。民居蔑昏墊之困。万物極繁阜
之丰。遍覽越邦。凘為勝地。誠四方輻輳之要會。為万世帝王之上都。朕欲因此地利以定厥居。卿等如何。                                                            
                                                                                                                   李公蘊。
                                                             Phiên âm
                                            Thiên đô chiếu
 
Tích thương gia chí bàn canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triệp cải, Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán sổ đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
         Huống Cao Vương cố đô Đại La Thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sàng khởi. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
         Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà.
    
                                                        Dịch nghĩa:
                                     Chiếu dời đô
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Cành năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dừi đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đô, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương, Chu cứ chịu yên đóng đô nơi đây. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
           Huống chi Thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc tây đông, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mắt đất rộng và bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
           Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở.Các khanh nghĩ thế nào.
                                                                                               Lý Công Uẩn



Bản dịch của Viện Khoa học xã hội Việt Nam, trong Đại Việt sử ký toàn thư 1993.
Sao y bản chính ngày 01/10/2010 . Nguyễn Đào Trường
                                                                                              

                                                                           


                                                                                               Lý Công Uẩn

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2011

Phế tích Tam Đảo

 Phế tích Tam Đảo
Đất đá thời gian trộn cỏ cây
Lâu đài sụp đổ cổ xưa đây
Ta lên Tam Đảo xem tình thế
Người đến Thượng Ngàn tính vận may
Rêu phủ hoang tàn mây núi xót
Nắng lùa phế tích gió ngàn hay
Giá như lầu cũ nguyên đâu đó
Rừng mới đa tầng xanh ngất ngây.

Nguyễn Đào Trường 












500 Tàu cá Trung Quốc

Web
Web
 
 
 

Thứ ba, ngày 13 tháng chín năm 2011

500 TÀU CÁ TRUNG QUỐC NGANG NHIÊN HOẠT ĐỘNG TẠI TRƯỜNG SA


Tàu cá Trung Quốc tràn ngập Trường Sa

Khoảng 500 tàu cá Trung Quốc đang ngang nhiên hoạt động lâu dài ở khu vực Trường Sa của Việt Nam. Thông tin trên được Cục trưởng Cục Ngư chính Nam Hải (cách Trung Quốc gọi biển Đông) Ngô Tráng tiết lộ trên Tân Hoa xã. Ông này nói rằng sở dĩ có nhiều tàu đến vậy bởi chính quyền Trung Quốc đã tổ chức cho ngư dân phát triển dự án nuôi cá lồng tại đầm nhiệt đới khu vực Mỹ Tế (tức Đá Vành Khăn thuộc Trường Sa).

Con tàu đa chức năng Quỳnh Phú Hoa Ngư - 01 vừa được tung đến Trường Sa từ ngày 10.9 từ cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam trực thuộc Công ty TNHH phát triển ngư nghiệp Quỳnh Phú Hoa Ngư. Công ty này mới thành lập vào tháng 3.2010. Với trọng tải 1.200 tấn, đây là con tàu lớn nhất trong số 500 tàu cá trên, có trang thiết bị hiện đại. Khi thông tin về tàu Quỳnh Phú Hoa Ngư-01 vừa được công bố, trên không ít các diễn đàn quân sự Trung Quốc như Wenhui.ch, T.qq.com, Xfjs.org, Picaes.com/topic... đã nảy sinh tranh luận sôi nổi. Nhiều ý kiến nghi ngờ con tàu này được trang bị vũ khí và có thể có cả tên lửa.

Ngọc Bi
Nguồn: Thanh Niên

Trong một bản tin khác của Thanh Niên ngày 11/9/2011.
Trung Quốc lại đưa tàu đến Trường Sa

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

Siêu cường09/09/2011 Siêu cường tất yếu (Tại sao sự khống chế của Trung Quốc là một điều chắc chắn) Arvind Subramanian, Foreign Affairs, tháng Chín/tháng Mười 2011 clip_image001Trong tiểu luận sau đây, đăng trên Foreign Affairs, một tạp chí của cơ quan nghiên cứu chính sách Council on Foreign Relations (Hội đồng Quan hệ Đối ngoại), học giả Arvind Subramanian, đã định nghĩa siêu cường là một cường quốc có thể bắt buộc một hay nhiều nước khác làm những điều mà họ không muốn làm, trong khi siêu cường đó có khả năng làm bất cứ điều gì mà các nước khác không muốn. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ tiến tới địa vị siêu cường theo ý nghĩa này mặc dù Trung Quốc chưa phải là một nước giàu. Và theo định nghĩa này, có lẽ Trung Quốc đã trở thành siêu cường đối với ta từ khuya. Nhiều độc giả có thể dị ứng với lối lý luận của Subramanian, nhưng vì lý do thuần túy học thuật, chúng tôi xin giới thiệu bài viết này. Bauxite Việt Nam Đối với con nợ, thì chủ nợ có thể giống như nhà độc tài. Những chính phủ gặp phải vấn đề tài chính thường hướng về Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) với thái độ van xin, và vì phải hành động theo mệnh lệnh của các chủ nợ quan trọng, IMF thường áp đặt những điều kiện gay gắt lên họ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990, Mickey Kantor, đại diện thương mại Mỹ dưới thời Tổng thống Clinton, gọi tổ chức này là “mũi nhọn mở cửa thành” (battering ram), vì nó đã được sử dụng để mở cửa thị trường châu Á cho hàng hóa của Mỹ. Trong cuộc khủng hoảng Kinh đào Suez năm 1956, Mỹ đe dọa sẽ cắt nguồn tài trợ mà Vương quốc Anh đang khẩn cấp cần đến nếu quân đội Anh không chịu rút khỏi Kinh đào Suez. Bộ trưởng Tài chính Anh lúc bấy giờ, Harold Macmillan, người đã chủ trì những màn thương thuyết nhục nhã cuối cùng của cuộc khủng hoảng, về sau đã nhớ lại rằng đó là “cái thở hắt cuối cùng của một cường quốc đang suy tàn”. Ông viết thêm, “có lẽ trong vòng 200 năm nữa Hoa Kỳ mới hiểu được chúng tôi đã cảm nhận như thế nào”. Phải chăng cái ngày ấy đã đến quá nhanh, khi Trung Quốc lăm le giành lấy địa vị siêu cường của Hoa Kỳ? Đây là một câu hỏi rất quan trọng, nhưng nó chưa được xét đến một cách nghiêm túc tại Mỹ. Ở đó, sự cao ngạo chủ yếu vẫn còn ngự trị tâm lý con người: sự khống chế kinh tế thế giới của Hoa Kỳ không thể bị đe dọa nghiêm trọng vì chính Hoa Kỳ tự làm cho mình xuống dốc. Sớm muộn gì rồi Hoa Kỳ cũng sẽ vươn dậy đối đầu với cuộc thử thách để khỏi phải thua cuộc hoàn toàn. Trung Quốc có thể đang trên đường trở thành một siêu cường kinh tế, và Mỹ có thể phải chia sẻ sân khấu toàn cầu với Trung Quốc trong tương lai. Nhưng, theo lý luận này, mối đe dọa của Trung Quốc chưa phải cận kề, chưa quá lớn, chưa đủ đa diện để có thể đẩy Hoa Kỳ ra khỏi vị trí người cầm lái. Cũng với lý luận này, kinh tế gia Barry Eichengreen trong cuốn lịch sử các trữ kim khác nhau, nhan đề Exorbitant Priviledge (Đặc quyền quá đáng) mới được xuất bản, đã kết luận rằng “Điều đáng mừng trong tình huống tồi tệ hiện nay là, số phận đồng đôla vẫn còn nằm trong tay chúng ta, chứ không phải trong tay của Trung Quốc”. Và vào tháng Chạp năm 2010, khi ông từ giã Nhà Trắng trong vai trò cố vấn kinh tế quốc gia cho Tổng thống Barack Obama, ông Larry Summers tuyên bố rằng: “Những tiên đoán về sự suy yếu của Hoa Kỳ cũng có từ lâu, như số tuổi của nước cộng hòa này. Nhưng chúng thể hiện một chức năng quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình đổi mới, luôn luôn được đòi hỏi ở mỗi thế hệ người Mỹ. Tôi xin thưa với quí vị rằng bao lâu mà chúng ta còn ưu tư về tương lai đất nước, thì tương lai ấy sẽ tốt đẹp hơn. Chúng ta có nhiều thách thức. Nhưng chúng ta cũng có một xã hội uyển chuyển, năng động, có đầu óc kinh doanh cao nhất mà thế giới chưa bao giờ thấy”. Nói cách khác, nếu Hoa Kỳ có thể chấn chỉnh được ngôi nhà kinh tế của mình, thì nước này có thể chặn đứng mối đe dọa đến từ Trung Quốc. Nhưng những quan điểm này đã đánh giá thấp một khả năng gần như chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ khống chế kinh tế thế giới trong vòng 20 năm sắp tới. Và chúng để lộ một quan niệm đơn phương, tự coi Hoa Kỳ là rốn vũ trụ: rằng sự khống chế thế giới sẽ được định đoạt chủ yếu do hành động của Hoa Kỳ, chứ không do hành động của Trung Quốc. Thật ra, kết quả của cuộc chạy đua này rất có thể được hình thành bởi phía Trung Quốc. Thế giới vào năm 2030 Nói chung, sự khống chế kinh tế là khả năng của một quốc gia dùng các phương tiện kinh tế để buộc các nước khác làm những điều nó muốn hoặc ngăn chặn các nước khác làm những điều nó không muốn. Những phương tiện ấy có thể là kích cỡ nền kinh tế của nước ấy, nền thương mại của nó, tình trạng tài chính của nó ở trong nước và ngoài nước, sức mạnh quân sự của nó, tính năng động công nghệ của nó, và địa vị quốc tế mà tiền tệ của nó chiếm giữ. Cuốn sách sắp xuất bản của tôi sẽ phát triển một chỉ số khống chế (an index of dominance) chỉ kết hợp ba yếu tố then chốt: GDP của một nước, thương mại của nó (được đo bằng tổng số lượng hàng xuất khẩu và lượng hàng nhập khẩu), và tầm mức nó làm một chủ nợ của thế giới còn lại. GDP đóng một vai trò quan trọng vì nó xác định nguồn lực tổng quát mà một nước có thể huy động để phóng chiếu quyền lực chống lại các đối thủ tiềm tàng hay nói cách khác có thể làm theo ý mình. Thương mại, nhất là nhập khẩu, quyết định độ mạnh của đòn bẫy mà một nước có thể vận dụng do việc cho phép hay từ chối các nước khác tiếp cận thị trường của mình. Và việc đóng vai một nhà tài trợ hàng đầu sẽ tạo được ảnh hưởng phi thường lên các nước khác đang cần ngân quĩ, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng. Không có thước đo nào nói lên sức mạnh khống chế rõ ràng như ba yếu tố kể trên: các sức mạnh khác phần lớn bắt nguồn từ đó (sức mạnh quân sự, chẳng hạn, tùy thuộc vào tình trạng tổng quát và kích cỡ của một nền kinh tế trong dài hạn), hoặc chỉ có giá trị ngoại biên (như sự khống chế tiền tệ), hoặc khó đo lường một cách nhất quán khi so sánh các quốc gia (như sức mạnh ngân sách). clip_image002 Tôi đã tính toán chỉ số [mô tả sức mạnh khống chế] này bằng cách đi ngược dòng lịch sử đến năm 1870 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh lúc bấy giờ) và phóng chiếu chỉ số này đến năm 2030 (chỉ tập trung vào địa vị kinh tế của Hoa Kỳ và Trung Quốc vào thời điểm đó). Những dự phóng này chủ yếu dựa vào những giả định tương đối dè dặt về mức tăng trưởng trong tương lai của Trung Quốc, nghĩa là nhìn nhận rằng Trung Quốc đang đối mặt với nhiều thử thách ở phía trước. Trước hết, dân số Trung Quốc sẽ bắt đầu già nua trong vòng một thập kỷ tới. Và kinh tế TQ đang bị méo mó nghiêm trọng dưới nhiều khía cạnh: tiền vốn cho vay với lãi suất quá rẻ (overly cheap capital) đã dẫn đến việc đầu tư quá lố; hối suất đồng nhân dân tệ bị kìm giữ ở mức quá thấp đã dẫn đến sự phát triển quá mức về hàng xuất khẩu; và năng lượng được bao cấp đã dẫn đến sự sử dụng thiếu hiệu quả và ô nhiễm môi trường. Việc điều chỉnh những lạm dụng này nhất định sẽ tạo ra những trục trặc rất tốn kém. Tính luôn cả những tốn kém này, tôi dự đoán rằng mức tăng trưởng của Trung Quốc sẽ chậm lại một cách đáng kể: trung bình 7% mỗi năm trong vòng 20 năm tới, so với khoảng 11% mà Trung Quốc đạt được trong thập kỷ vừa qua. Lịch sử cho biết rằng nhiều nền kinh tế – như Đức, Nhật Bản, Singapore, Nam Hàn, và Đài Loan – đã tăng trưởng theo nhịp độ mà tôi dự đoán cho Trung Quốc sau khi họ đạt được một mức phát triển như hiện nay của Trung Quốc. Trong khi đó, tôi giả định rằng kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng khoảng 2,5% mỗi năm, như trong 30 năm qua. Dự đoán này là hơi lạc quan so với dự đoán mới nhất là 2,2% của Phòng Ngân sách Quốc hội (CBO) về mức tăng trưởng dài hạn, một dự đoán mà CBO thỉnh thoảng phải hạ thấp vì tác động tiêu cực lên nền kinh tế Hoa Kỳ do các núi nợ, công cũng như tư, ngày một chồng chất và con số thất nghiệp vừa cao vừa kéo dài. Kết quả sau cùng trong sự phân tích của tôi là, vào năm 2030 sự suy yếu tương đối của Hoa Kỳ sẽ không tạo ra một thế giới đa cực (multipolar) nhưng là một thế giới gần như đơn cực (near-unipolar) bị Trung Quốc khống chế. Sức mạnh kinh tế của Trung Quốc sẽ chiếm gần 20% GDP toàn cầu (một nửa đo bằng trị giá đôla và một nửa bằng sức mua thực sự), so với Hoa Kỳ lúc đó chỉ chiếm 15%. Vào thời điểm đó, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc sẽ vào khoảng 33.000 đôla, hay khoảng một nửa GDP đầu người của Mỹ. Nói thế khác, Trung Quốc sẽ không còn nghèo tả tơi (dirt poor), như người ta thường lầm tưởng. Hơn nữa, Trung Quốc sẽ tạo ra 15% mậu dịch thế giới – gấp đôi Mỹ. Khoảng năm 2030, Trung Quốc sẽ ở vị trí khống chế dù cho người ta có nghĩ GDP là quan trọng hơn thương mại hay ngược lại; Trung Quốc sẽ vẫn dẫn đầu trong cả hai lãnh vực. Theo chỉ số và những dự đoán này, sự khống chế của Trung Quốc là khá gần kề. Mặc dù hiện nay GDP của Hoa Kỳ vẫn còn lớn hơn GDP của TQ và sức mạnh mậu dịch của hai quốc gia là gần ngang nhau, nhưng Hoa Kỳ là một con nợ rất lớn và có nhiều nhược điểm – Hoa Kỳ ngốn hết khoảng 50% vốn luân lưu của thế giới – trong khi Trung Quốc là một chủ nợ quan trọng đối với thế giới. Năm 2010, sự vượt trội của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc là không đáng kể: sự khác biệt chưa tới 1% giữa chỉ số khống chế (indices of dominance) của hai quốc gia. Thật ra, nếu người ta cân nhắc những yếu tố này một cách hơi khác hơn, bằng cách coi nhẹ kích cỡ của nền kinh tế so với sức mạnh mậu dịch một chút, thì Trung Quốc đã đứng trước Hoa Kỳ vào năm 2010. Sự khống chế của Trung Quốc trong tương lai cũng sẽ được nhìn nhận trong nhiều lãnh vực hơn hiện nay. Kinh tế Trung Quốc sẽ lớn hơn kinh tế Hoa Kỳ và lớn hơn kinh tế của bất cứ quốc gia nào khác; ngoài ra, thương mại và nguồn vốn của Trung Quốc cũng sẽ to lớn như thế. Đồng nhân dân tệ cũng sẽ là một đối thủ đáng nể của đồng đôla trong địa vị một trữ kim hàng đầu của thế giới. Ngoài ra, khoảng cách giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ mở rộng hơn dự kiến. Năm 2010, Hội đồng Tình báo Quốc gia Mỹ tiên đoán rằng vào năm 2025, “Hoa Kỳ vẫn còn là một siêu cường, nhưng sự khống chế của Hoa Kỳ sẽ bị suy giảm hơn nhiều”. Đánh giá này là lạc quan không hợp lý. Những dự đoán của tôi cho thấy rằng khoảng cách giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ vào năm 2030 sẽ tương tự như khoảng cách giữa Hoa Kỳ và các đối thủ của nó giữa thập niên 1970, thời cao điểm của bá quyền Mỹ, và lớn hơn khoảng cách giữa Vương quốc Anh và các đối thủ của trong thời cao điểm của Đế quốc Anh, vào năm 1870. Tóm lại, việc Trung Quốc khống chế kinh tế tương lai là cận kề hơn và sẽ là vừa to lớn vừa đa diện hơn nhiều người đang nghĩ. Mạnh như một con bò mộng Martin Wolf, cây viết chuyên đề trên tờ Financial Times (Tài chính thời báo) đã dùng từ “siêu cường nóng vội” (premature superpower) để mô tả khả năng độc đáo của Trung Quốc trong việc vận dụng quyền lực mặc dù đang còn là một nước nghèo. Tuy nhiên, theo dự đoán của tôi, vào năm 2030, Trung Quốc sẽ không còn nghèo như thế. Trái lại, GDP đầu người của Trung Quốc (dựa vào sức mua nội địa) sẽ lớn hơn một nửa GDP đầu người của Hoa Kỳ và lớn hơn GDP đầu người bình quân trên thế giới. Tuy nhiên, sự khống chế kinh tế của Trung Quốc sẽ không có tính thuần nhất: khác với quá khứ, trong khi các siêu cường – Vương quốc Anh và Hoa Kỳ – là rất giàu có so với các địch thủ của mình, thì TQ sẽ là một quốc gia có lợi tức trung lưu hay trên trung lưu. Và câu hỏi đặt ra là, liệu một nước có thể trở thành siêu cường thậm chí cả khi nó không phải là quốc gia giàu có nhất hay không? Có ba lý do khả tín để cho rằng nó không thể trở thành siêu cường. Một là, một nước tương đối nghèo có thể phải đặt tham vọng phóng chiếu quyền lực quốc tế của mình nằm dưới nhu cầu giải quyết các thách thức bức thiết hơn ở trong nước, như phải đạt mức sống cao hơn và ổn định xã hội rộng lớn hơn. Hai là, nước đó có thể không đủ sức huy động nguồn lực cần thiết để phóng chiếu quyền lực của mình ra nước ngoài. Chỉ nội một điều là, phương tiện quân sự cũng cần đến tài chính, và các nước nghèo thường gặp nhiều khó khăn hơn các nước giàu khi bắt người dân đóng thuế. Ba là, một nước nghèo không thể có nhiều ảnh hưởng ở nước ngoài nếu nó không có được quyền lực mềm trong tay, như chế độ dân chủ, xã hội cởi mở, hay những giá trị đa nguyên. Quyền lãnh đạo đi kèm với sức mạnh khống chế chỉ tồn tại khi nào nó còn tạo được động lực cho người theo: chỉ có những ai làm biểu tượng cho một cái gì có sức thu hút rộng lớn hay gần như phổ quát mới gây được cảm hứng. Tương tự như thế, chỉ một nước giàu – một nước đang nắm lợi thế kinh tế và công nghệ – mới có thể làm một nguồn ban phát tư tưởng, công nghệ, các định chế, và các lề lối cho nhiều nước khác. Như vậy, dù khả năng khống chế không luôn luôn đi liền với sự nghèo khó, một quốc gia vẫn có thể trở thành siêu cường mặc dù nó không thuộc vào những nước giàu có nhất. Thậm chí một nước có lợi tức trung bình, một nước mà Trung Quốc có khả năng trở thành vào năm 2030, có thể giữ đoàn kết nội bộ, huy động được nguồn lực cho những mục đích đối ngoại (như các chi phí quân sự), và nắm được một số lý tưởng dân tộc đủ sức kích động. Thật vậy, dù với GDP đầu người tương đối thấp như hiện nay, Trung Quốc đã có sức mạnh khống chế trên nhiều phương diện. Trung Quốc đã thuyết phục được nhiều nước chủ nhà tại châu Phi, những nơi mà Trung Quốc đã bỏ ra rất nhiều tiền để đầu tư, đóng cửa các đại sứ quán Đài Loan. Với trữ lượng ngoại tệ gồm 3.000 tỉ đôla, Trung Quốc đưa ra đề nghị mua lại nợ của Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha nhằm chặn đứng hoặc giảm bớt tình trạng hỗn loạn tài chính tại châu Âu. (Trong dịp Chủ tịch nước của Trung Quốc đến thăm vào tháng Tư, Thủ tướng Tây Ban Nha, Ông José Luis Rodríguez Zapatero đã nói “Trung Quốc là người bạn tốt nhất của Tây Ban Nha”). Trung Quốc cũng sử dụng vai vế to lớn của mình để thắt chặt các quan hệ thương mại và tài chính tại châu Á và châu Mỹ La-tinh: chẳng hạn, nhiều thương vụ giữa một số quốc gia trong hai khu vực nói trên hiện nay có thể thanh toán bằng đồng nhân dân tệ. Trước hết, chính sách hối suất của Trung Quốc đã ảnh hưởng bất lợi cho các nền kinh tế khắp thế giới, gây tổn thương cho các nước đang phát triển cũng như cho bản thân Hoa Kỳ: bằng cách kìm giá đồng nhân dân tệ ở mức quá rẻ, Trung Quốc có thể làm cho hàng xuất khẩu của mình có sức cạnh tranh hơn hàng xuất khẩu từ các nước như Bangladesh, Ấn Độ, Mê-hi-cô và Việt Nam. Nhưng các nước này cho đến nay vẫn khoanh tay đứng bên lề, để cho Washington một mình tiến hành cuộc thánh chiến chống Bắc Kinh – và do đó, Hoa Kỳ không mấy thành công. Trong khi đó, Trung Quốc đủ sức mua chuộc phe chống đối tỉ giá hối suất của Trung Quốc. Mặc dù nhiều nước lấy làm bất mãn vì thấy sức cạnh tranh của mình bị phá hoại bởi một đồng nhân dân tệ bị kìm giá, họ vẫn giữ thái độ im lặng, hoặc vì khiếp sợ trước cơ bắp chính trị của Trung Quốc hoặc vì Trung Quốc cống hiến cho họ sự hỗ trợ tài chính hay cơ hội mua bán. Thậm chí trong phạm vi nước Mỹ, ít có nhóm nào thực sự lên tiếng chỉ trích chính sách hối đoái của Trung Quốc. Trung Quốc là một thị trường rộng lớn cho các công ty Hoa Kỳ, và vì vậy, chính cánh tả tự do (the liberal left) chứ không phải những người nắm giữ vốn của Hoa Kỳ đã lên án chính sách hối đoái của Trung Quốc, vì quyền lợi của công nhân Mỹ. Cho dù trong tương lai rất gần Trung Quốc không thể huy động loại hình khống chế có thể tự động thúc đẩy hay xây dựng những hệ thống và cơ chế quốc tế như những tổ chức Hoa Kỳ đã tạo ra sau Thế chiến II, nhưng Bắc Kinh đang sử dụng những hình thức khống chế khác. Chẳng hạn, Trung Quốc có thể đòi hỏi các công ty Mỹ và châu Âu chia sẻ công nghệ của họ với các công ty Trung Quốc trước khi cho phép họ tiếp cận thị trường Trung Quốc. Và Trung Quốc có thể theo đuổi các chính sách có hậu quả sâu rộng [mang tính hệ thống], bất chấp sự chống đối của nhiều nước trên thế giới. Chính sách hạ giá hối suất đồng nhân dân tệ là một chiến lược cổ điển gây phương hại cho các đối tác thương mại và làm lợi cho Trung Quốc, một chính sách phá hoại tính thông thoáng (openness) của các hệ thống thương mại và tài chính thế giới đồng thời cũng tạo các điều kiện tiếp cận tiền mặt quá dễ dàng (easy liquidity), một hiện tượng đóng góp cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây. Chết đuối vì những con số Hoa Kỳ có thể đảo ngược xu thế này không? Tương lai kinh tế Mỹ gợi lên nhiều nỗi lo âu: nước này đang kinh qua vấn đề ngân sách, vấn đề tăng trưởng kinh tế, và, có lẽ bất trị hơn tất cả, vấn đề của giai cấp trung lưu. Những đợt giảm thuế liên tục và hai cuộc chiến tranh, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2008-2010, tình trạng gia tăng không ngừng các quyền lợi an sinh của người già - người nghèo (đặc biệt liên quan đến y tế), và sự gia tăng số tài sản xấu [như nhà bị tịch biên] mà cuối cùng chính phủ có thể phải đứng ra gánh vác – tất cả những điều này đã tạo ra nghi vấn nghiêm trọng về khả năng quân bình ngân sách trong khu vực công của Hoa Kỳ. Nợ công, nợ tư, và nạn thất nghiệp lâu dài sẽ kềm hãm mức tăng trưởng lâu dài. Và một sự kết hợp bao gồm các yếu tố như mức thu nhập đình trệ của giới trung lưu, cách biệt giàu nghèo ngày càng lớn, khả năng thăng tiến xã hội bị thoái hóa, và, gần đây, các viễn ảnh tương lai sa sút đối với cả thành phần có giáo dục đại học đã tạo ra những vấn đề to lớn về phân phối lợi tức. Giới trung lưu Mỹ cảm thấy đang bị vây khốn: họ không muốn phải tuột thang kỹ năng, nhưng viễn ảnh thăng tiến của họ ngày một bị hạn chế vì sự cạnh tranh đến từ Trung Quốc và Ấn Độ. Sức mạnh liên tục của Hoa Kỳ phát xuất từ thái độ dám làm (can-do attitude) trong việc chỉnh sửa các vấn đề kinh tế và từ niềm tin tưởng rằng các yếu tố kinh tế cơ bản lành mạnh có thể đảm bảo sức khống chế lâu dài của nèn kinh tế Mỹ. Đáng lưu ý nhất là, Hoa Kỳ có đủ khả năng tạo các cơ hội cho giới doanh nghiệp mà các nước khác không có được (unique opportunities for entrepreurship) “Hoa Kỳ có một văn hóa doanh nghiệp thuận lợi, công nghiệp đầu tư già dặn nhất nhằm giúp vốn cho các công ty mới mẻ, quan hệ chặt chẽ giữa các đại học và công nghiệp, và một chính sách nhập cư cởi mở”, theo Tổ chức Theo dõi Doanh nghiệp Toàn cầu (Global Entrepreurship Monintor, GEM), một tổ chức học thuật chuyên nghiên cứu sinh hoạt kinh doanh toàn cầu. Trong một bản thăm dò năm 2009, GEM đã xếp Hoa Kỳ đứng đầu thế giới trong việc cung ứng những cơ hội như thế. Gần như tất cả các công ty thương mại thành công quan trọng nhờ những phát kiến công nghệ trong ba thập kỷ qua – Apple và Microsoft, Google và Facebook – đều được thành lập và đặt bản doanh tại Hoa Kỳ. Thật vậy, chính nhờ tìm ra được những nguồn tạo sự tăng trưởng mới mẻ và năng động trong thập niên 1990 mà Hoa Kỳ đã có thể ngăn chặn thách thức kinh tế do một cường quốc đang trỗi dậy của thời đại đó, tức Nhật Bản. Ngày nay, những người lạc quan lý luận rằng Hoa Kỳ có thể lặp lại kinh nghiệm đó với Trung Quốc. Thật vậy, nếu kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng đều đặn ở tỉ lệ 3,5% trong vòng 20 năm tới, như đã diễn ra vào thập niên 1990, tinh thần của người đầu tư và sự tin tưởng đặt vào đồng đôla như một trữ kim có thể sẽ được nâng cao. Nhưng ngày nay, một số khác biệt then chốt chắc chắn đã giảm bớt niềm hi vọng đó. Hoa Kỳ bước vào thập niên 1990 với số công trái (government debt) nhỏ hơn rất nhiều so với số nợ nước này sẽ mắc trong tương lai. Năm 1990, tỉ lệ công trái so với GDP là vào khoảng 42%, trong khi con số mới nhất mà Văn phòng Ngân sách Quốc hội (COB) dự đoán cho năm 2020 là gần 100%. Hai thập niên về trước, tư thế đối ngoại của Hoa Kỳ cũng ít có nhược điểm như bây giờ. Chẳng hạn, trong năm 1990, nước ngoài chỉ cầm giữ 19% số trái phiếu của chính phủ Hoa Kỳ; ngày nay con số đó đã lên gần 50%, và phần lớn nằm trong tay TQ. Mãi cho đến thập niên 1990, Hoa Kỳ vẫn chưa mấy bận tâm về cái ngày phải lo lắng những chi phí cho quyền lợi của các nhóm đặc biệt (entitlements) như người già, người nghèo. Và hiện nay, giới trung lưu Mỹ đang bị nhiều vấn đề vây bủa. Trong 20 năm qua, nhiều căn bệnh kinh tế có khả năng bóp nghẹt giới trung lưu Mỹ, như mức thu nhập trung bình bị đình trệ, đã trở nên trầm kha và bất trị hơn xưa. Thậm chí cả tỉ lệ tăng trưởng 3,5%, một tỷ lệ vượt quá những mong đợi hiện nay, có lẽ cũng không đủ sức duy trì sự tin tưởng vào mô hình Mỹ, một mô hình đặt cơ sở trên niềm hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho đại đa số. Nói cách khác, Hoa Kỳ không thể tránh cái lô-gíc không lay chuyển của dân số học và sự kiện là các nước nghèo, nhất là Trung Quốc, sắp bắt kịp Hoa Kỳ. Trung Quốc, có dân số đông gấp 4 lần Hoa Kỳ, sẽ là một nền kinh tế lớn hơn ngay sau khi mức sống trung bình của người dân Trung Quốc (tính theo GDP đầu người) vượt quá 1/4 mức sống trung bình của người Mỹ. Bằng một số cách đo lường, kể cả cách của tôi, sự kiện này đã bắt đầu diễn ra, và nếu kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng, thì khoảng cách giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ chỉ nới rộng ra mà thôi. Một Hoa Kỳ cố vùng lên có thể sẽ trì hoãn tiến trình ấy, nhưng sẽ không thể chặn đứng được nó. Phải tăng trưởng 3,5%, thay vì 2,5% như hiện nay, trong 20 năm tới, may ra Hoa Kỳ mới có thể đẩy mạnh thành tích kinh tế, ổn định xã hội, và nâng cao tinh thần quốc gia. Nhưng khả năng này cũng không thay đổi đáng kể địa vị của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc nếu nước này duy trì mức tăng trưởng chừng 7%. Những dự đoán này làm lung lay quan niệm chính yếu cho rằng sức mạnh siêu cường kinh tế Mỹ tự nó thoái hóa [chứ không do sứ ép từ ngoài]. Thật ra, chính những hành động của Trung Quốc sẽ định đoạt phần lớn sự cách biệt lớn hay nhỏ giữa mức tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Chẳng hạn, Trung Quốc có thể thất bại ghê gớm nếu cứ tiếp tục để cho các bong bóng địa ốc căng to hay nếu không ngăn chặn được các biến động chính trị. Hoặc Trung Quốc có thể vươn lên mạnh mẽ hơn bằng cách chỉnh sửa các lệch lạc kinh tế hiện nay, nhất là cần phải tránh xa chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu và tiến tới một chiến lược phát triển nhu cầu trong nước. Phạm vi hoạt động của Hoa Kỳ là hạn hẹp hơn nhiều. Nếu Hoa Kỳ không thể tăng trưởng chậm hơn 2,0-2,5% một cách đáng kể, thì nó lại càng không thể tăng trưởng nhanh hơn 3,5%. Đây là điều không may của một nước đang đứng ở biên cương cuối cùng trong tiến trình phát triển kinh tế: cả tiềm năng đi lên lẫn tiềm năng đi xuống đều bị giới hạn. Dù Hoa Kỳ có tăng trưởng nhanh chăng nữa – chẳng hạn 3,5 % – thì những nước khác, như Trung Quốc, cũng có thể tăng trưởng nhanh hơn, khiến bức tranh cơ bản về tương quan lực lượng kinh tế không thay đổi. Thật vậy, khi tốc độ cải tiến công nghệ trong những nước tiên tiến, như Hoa Kỳ, tăng nhanh, thì những công nghệ mới của họ cũng nhanh chóng rơi vào tay những nước nghèo, giúp kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở đó. Thậm chí quan trọng hơn cả việc tạo ra các công nghệ mới, đó là khả năng nắm giữ vốn nhân lực (human capital) và những kỹ năng để sử dụng những công nghệ đó. Theo Sáng hội Khoa học Quốc gia (National Science Foundation), vào năm 2006 số sinh viên theo học bốn năm đầu đại học khoa học tại Trung Quốc gần gấp đôi tại Hoa Kỳ. Sự cách biệt này chỉ có thể trở nên lớn hơn mà thôi. Mặc dù Trung Quốc có một hệ thống giáo dục tồi dở hơn Hoa Kỳ rất xa, nhưng Trung Quốc lại tỏ ra rất sẵn sàng hấp thụ công nghệ mới. Vào năm 2002 số tạp chí khoa học đăng bài có sự duyệt xét của chuyên gia cùng ngành (peer-reviewed scientific publications) tại Hoa Kỳ nhiều gấp 6 lần Trung Quốc – nhưng vào năm 2008 con số này chỉ còn 2,5 lần. Khả năng dẫn đầu mức tăng trưởng kinh tế của các nước giàu bị hạn chế từ bên trong vì Trung Quốc có thể hấp thụ và sử dụng công nghệ mới khôn khéo hơn. Sự tinh vi của công nghệ Trung Quốc đang gia tăng: Rất ít có sản phẩm nào Hoa Kỳ, châu Âu, và Nhật Bản xuất khẩu mà Trung Quốc không xuất khẩu được. Nói chung, nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ bị chậm lại, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc có thể không bị ảnh hưởng, nhưng nếu mức tăng trưởng của Hoa Kỳ tăng nhanh, thì mức tăng trưởng của Trung Quốc cũng có thể sẽ tăng nhanh. Bằng cách nào thì Hoa Kỳ cũng không thể bỏ xa Trung Quốc. Trở lại bài học kênh đào Suez Thậm chí một Hoa Kỳ vươn dậy trở lại cũng không thể sử dụng quyền lực và sức khống chế của mình đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã đủ sức để làm những điều mà phần còn lại của thế giới không muốn nó làm. Liệu chẳng bao lâu nữa Trung Quốc có đủ sức buộc Hoa Kỳ phải làm cả những điều mà Hoa Kỳ không muốn làm hay không? Liệu một vụ kênh đào Suez khác có thể xảy ra hay không? Năm 1956, trong khi đồng sterling (Anh kim) chịu sức ép nặng nề vì Ai Cập phong tỏa kênh đào Suez, Vương quốc Anh quay sang Hoa Kỳ để xin hỗ trợ tài chính, dựa vào “tình hữu nghị đặc biệt” của hai nước. Nhưng Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower đã từ chối. Ông giận dữ vì Anh (và Pháp) đã tấn công Ai Cập sau khi Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser quốc hữu hóa kênh đào Suez, đúng vào thời điểm Eisenhower đang vận động tái tranh cử với danh nghĩa một con người hòa bình đã chấm dứt cuộc chiến trên Bán đảo Triều Tiên. Ông đòi Vương quốc Anh phải tuân theo một nghị quyết Liên hiệp Quốc do Mỹ bảo trợ, buộc quân Anh phải rút khỏi Ai Cập tức khắc và vô điều kiện. Nếu Anh không chịu rút quân, Washington sẽ không cho phép Vương quốc Anh tiếp cận các nguồn lực tài chính từ IMF. Nhưng nếu chính phủ Anh chịu rút quân, họ sẽ nhận được sự trợ giúp tài chính quan trọng. Vương quốc Anh đồng ý, và Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho một gói tài trợ to lớn, gồm một khoản cho vay chưa từng có từ IMF đáng giá 1,3 tỉ đôla và một khoản 500 triệu đôla từ Ngân hàng Xuất - Nhập khẩu Hoa Kỳ. Bây giờ, ta cứ tưởng tượng một tương lai không xa trong đó Hoa Kỳ đã phục hồi từ cuộc khủng hoảng 2008-2010 nhưng vẫn còn chồng chất nhiều vấn đề kinh tế từ trong cơ cấu: khoảng cách thu nhập (giàu nghèo) ngày càng lớn, một tầng lớp trung lưu chịu nhiều sức ép, và cơ hội thăng tiến kinh tế và xã hội bị suy giảm. Hệ thống tài chính Mỹ vẫn còn mong manh như thời trước khủng hoảng, và chính phủ chưa đối phó được những chi phí ngày càng lớn cho người già - người nghèo và sự gia tăng số tài sản xấu trong hệ thống tài chính, mà chính phủ có thể phải tiếp quản. Nạn lạm phát là một vấn đề toàn cầu vì giá thương phẩm tăng vọt do sự tăng trưởng nhanh chóng tại các thị trường mới nổi (emerging markets). Trung Quốc có một nền kinh tế và một luồng mậu dịch lớn gấp đôi Hoa Kỳ. Đồng đôla mất hết vẻ hào nhoáng của nó; mức cầu của đồng nhân dân tệ như một trữ kim ngày càng gia tăng. Cũng rất giống như năm 1956, khi Washington bị tình nghi là đã đạo diễn các cuộc bán tháo đồng sterling tại New York để buộc chính phủ Anh rút quân khỏi kênh đào Suez, tin đồn đoán loan truyền khắp nơi là Trung Quốc có kế hoạch sử dụng sức mạnh tài chính của mình; Trung Quốc không còn chịu đựng thêm nữa sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương. Bắc Kinh bắt đầu bán một phần trữ lượng ngoại tệ (lúc bấy giờ có thể lên tới 4 nghìn tỉ đôla). Các nhà đầu tư bắt đầu giao động, lo sợ đồng đôla có thể suy sụp, và các thị trường trái phiếu bán tháo giấy nợ của chính phủ Hoa Kỳ. Liền sau đó Hoa Kỳ mất điểm tín dụng AAA của mình. Các cuộc bán đấu giá công khố phiếu Hoa Kỳ không tìm được người mua. Để duy trì lòng tin của giới đầu tư, Quỹ Dự trữ Liên bang đưa lãi suất lên rất cao. Chẳng bao lâu, lãi suất vượt quá tỉ lệ tăng trưởng rất xa, và Hoa Kỳ cần tài trợ với lãi suất thấp. Hoa Kỳ hướng đến các nước xuất khẩu dầu hỏa, nhưng các thủ lĩnh độc tài thân thiện với Hoa Kỳ ngày xưa đã bị thay thế bởi những nhà lãnh đạo dân chủ giả hiệu (illiberal democrats) thuộc mọi khuynh hướng Hồi giáo, từ ôn hòa đến cực đoan, tất cả đều mang ký ức lâu dài về bàn tay can thiệp của Mỹ tại Trung Đông. Cũng như đối với Hy Lạp, Ái Nhĩ Lan, và Bồ Đào Nha gần đây, việc tìm kiếm tài trợ từ IMF có vẻ là điều không thể tránh: vì nếu Hoa Kỳ không trả nỗi nợ nần của mình, việc này sẽ rất nguy hại cho nỗ lực duy trì những gì còn sót lại trong vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ. Nhưng vào thời điểm này, Trung Quốc, đã là ông chủ ngân hàng lớn nhất thế giới từ năm 2000, đang kiểm soát túi tiền của IMF. Mặc dù Trung Quốc cũng nhận thấy việc IMF cứu giúp Hoa Kỳ là cần thiết, nhưng họ đưa ra một điều kiện tiên quyết: Hoa Kỳ phải triệt thoái hải quân ra khỏi Tây Thái Bình Dương. Đòi hỏi này có ảnh hưởng mạnh mẽ vì Trung Quốc, trong tư thế là nước đóng góp nhiều nhất cho IMF và là một ân nhân cho nhiều thành viên của IMF, có thể ngăn chặn việc Hoa Kỳ xin tài trợ một cách dễ dàng. Vào lúc đó, Trung Quốc thậm chí có thể đã giành được quyền phủ quyết nhờ những cải tổ liên quan việc điều hành IMF được dự trù vào năm 2018. Một số người sẽ cho rằng kịch bản này là hoàn toàn hoang tưởng. Dẫu sao, Hoa Kỳ có thể dễ dàng từ chối tài trợ cho Vương quốc Anh năm 1956 vì có làm như thế cũng không gây hậu quả nghiêm trọng cho đồng đôla hay nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhưng nếu ngày mai, Trung Quốc bán, hoặc chỉ chấm dứt mua, công khố phiếu Hoa Kỳ, đồng đôla sẽ xuống giá và đồng nhân dân tệ sẽ lên giá – một hậu quả mà chính Trung Quốc đã và đang cương quyết ngăn chặn. Trung Quốc không thể bất thần đạp đổ chiến lược tăng trưởng kinh tế bằng thủ đoạn thương mại (mercantilist growth strategy) và liều mất những số vốn to lớn trong khối dự trữ ngoại hối của Trung Quốc. Một số người khác có thể cho rằng thậm chí nếu Trung Quốc muốn làm như thế khi kinh tế Hoa Kỳ bị đình đốn, thì Quỹ Dự trữ Liên bang chỉ việc quá sung sướng mua hết bất cứ lượng công khố phiếu Hoa Kỳ nào mà Trung Quốc đem bán đổ. Nhưng tất cả dự kiến này không hề xét đến khả năng là, những động cơ của Trung Quốc trong tương lai có thể sẽ khác xa với hiện nay. Kể từ 10 năm sau, Trung Quốc có thể sẽ giảm bớt quyết tâm kìm giá đồng nhân dân tệ. Nếu Trung Quốc tiếp tục từng bước quốc tế hoá tiền tệ của mình, thì cả khả năng kìm giá đồng nhân dân tệ lẫn động lực để Trung Quốc làm như vậy có thể sẽ sớm biến mất. Khi cả hai điều này biến mất, thì sức mạnh của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ sẽ trở thành đáng kể. Nhưng chính phủ Trung Quốc là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho Hoa Kỳ: nó giữ nhiều loại trái phiếu của Mỹ và tài trợ để Hoa Kỳ đối phó với nạn thâm thủng ngân sách. Sức mạnh đòn bẩy để điều khiển Hoa Kỳ tập trung trong tay Bắc Kinh. Hẳn nhiên, những viễn tượng của một đồng đôla mất giá chắc sẽ ít nhức nhối cho Hoa Kỳ trong tương lai giả tưởng này hơn là viễn ảnh của đồng sterling mất giá đối với Vương quốc Anh năm 1956. Lúc bấy giờ, một sự tuột giá của đồng sterling chắc chắn sẽ gây thiệt hại to lớn cho tiền tệ của các cựu thuộc địa Anh, tức những nước đang giữ các tài sản to lớn dựa vào đồng sterling. Những thuộc địa này chắc chắn sẽ bán tài sản bằng đồng sterling của họ, do đó sẽ làm suy yếu thêm những quan hệ kinh tế với Vương quốc Anh. Ngăn chặn hiểm họa này là điều quan trọng đối với chính phủ London trong nỗ lực duy trì những gì còn sót lại của Đế quốc Anh. Một sự tuột giá của đồng đôla sẽ ít gây rắc rối hơn, một phần vì nợ nước ngoài của Hoa Kỳ đều tính bằng đôla. Một sự lặp lại kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng kênh đào Suez có vẻ không thể xảy ra trong thế giới ngày nay. Nhưng tình hình kinh tế hiện nay của Hoa Kỳ thật sự làm cho nước này có nhiều điểm yếu cơ bản khi đối diện với sức mạnh khống chế không thể tránh của Trung Quốc. Ngày trước, Vương quốc Anh đã cầm một tay bài kém cỏi trong cuộc khủng hoảng kênh đào Suez, không những chỉ vì nước này lâm vào tình trạng nợ nần và nền kinh tế của nó đang suy yếu, nhưng còn vì một cường quốc kinh tế khác đã xuất hiện. Ngày nay, thậm chí khi kinh tế Hoa Kỳ đang suy yếu từ trong cơ cấu (structurally weak), khi cơn nghiện nợ đã làm cho nước này quá lệ thuộc ngoại bang, và khi viễn tượng tăng trưởng kinh tế của nó là tối thiểu, thì một đối thủ hùng mạnh đã lù lù xuất hiện. Trung Quốc có thể không hẳn là kẻ địch của Hoa Kỳ, nhưng nó cũng chẳng phải là một đồng minh. Lời tiên đoán của Macmillan năm 1971, rằng Hoa Kỳ có thể suy yếu “trong 200 năm nữa”, đã để lộ một lối giải thích lịch sử máy móc: ông đã tiên đoán một vai trò siêu cường lâu dài cho Hoa Kỳ, tương tự như địa vị siêu cường mà nước ông từng được hưởng. Nhưng Trung Quốc có thể thúc đẩy tiến trình các mô hình lịch sử – và buộc Hoa Kỳ phải đối diện với sự xuống dốc của mình sớm hơn Macmillan tiên đoán rất nhiều hay thậm chí sớm hơn cả hầu hết mọi người dự kiến hiện nay. A.S. Arvind Subramanian là hội viên nghiên cứu thâm niên tại Viện Peterson về khoa Kinh tế Quốc tế (the Peterson Institute for International Economics) và tại Trung tâm Phát triển Toàn cầu (the Center for Global Development). Bài báo này dựa vào nội dung cuốn sách sắp xuất bản của ông, cuốn Eclipse: Living in the Shadow of China’s Economic Dominance (Peterson Institute for International Economics, 2011) Trần Ngọc Cư dịch Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN. Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 08:54 Nhãn: Trung Quốc

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

Đơn khởi kiện

07/09/2011

Đơn khởi kiện Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
_______________________
Hà Nội, ngày 5  tháng 9 năm 2011
ĐƠN KHỞI KIỆN
(V/v Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội đã phát sóng truyền hình có nội dung vu khống, xuyên tạc, xúc phạm những người biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn, vi phạm Luật báo chí và Bộ Luật dân sự)
Kính gửi: Tòa án nhân dân Quận Đống Đa – Thành phố Hà Nội
I.                  Nguyên đơn, gồm:
STT
Họ tên
Địa chỉ
1
Nguyên Ngọc
Nhà E7, khu tập thể số 8, Lý Nam Đế, Hà Nội
2
Nguyễn Huệ Chi
10 C3, Khu TT Viện KHXH, Cống Vị, Ba Đình, Hà Nội
3
Nguyễn Văn Khải
42 Thợ Nhuộm, Hoàn Kiếm, Hà Nội
4
Ngô Đức Thọ
50, ngõ 210/41/11 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
5
Vũ Ngọc Tiến
P.1106, nhà N5A, Hoàng Đạo Thúy, Cầu Giấy, Hà Nội
6
Phạm Xuân Nguyên
P.503, nhà H1, ngõ 37, Kim Mã Thượng, Ba Đình, Hà Nội.
7
Nguyễn Quang A
19 Đoàn Nhữ Hài, Hà Nội
8
Nguyễn Đăng Quang
Số 7, Đường Sông Tô Lịch, Quan Hoa, Cầu giấy, Hà Nội
9
Lê Dũng
54B, Hà Trì 3, Hà Cầu, Hà Đông, Hà Nội.
10
Nguyễn Xuân Diện
P.201, B8, Tập thể Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội.
II.               Bị đơn:
Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội (Viết tắt Đài PT-TH Hà Nội)
Trụ sở: Số 3 và số 5 Huỳnh Thúc Kháng, Q. Đống Đa, Hà Nội.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
a/ Những người biểu tình tại Hà Nội phản đối Trung Quốc gây hấn (ngoài những người trong danh sách Nguyên đơn, có nguyện vọng tham gia vụ kiện).
b/ Những phóng viên thực hiện những chương trình truyền hình liên quan (đề nghị Đài PT-TH Hà Nội cung cấp tên).
III.           Tóm tắt nội dung vụ kiện:
Gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có hành vi gây hấn ở Biển Đông, xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam, gây thiệt hại và uy hiếp nhiều hoạt động kinh tế của các tổ chức, công dân Việt Nam tại Biển Đông. Bức xúc trước những hành vi gây hấn, xâm hại này, từ ngày 5/6/2011 đến ngày 21/8/2011 đã có 11 cuộc biểu tình tự phát của người Việt Nam tại Hà Nội. Chúng tôi (những Nguyên đơn) đã tham gia những cuộc biểu tình này, để thể hiện lòng yêu nước, ủng hộ việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam, bảo vệ ngư dân Việt Nam, phản đối những hành vi xâm hại Việt Nam từ phía Trung Quốc.
Tuy nhiên, Đài PT-TH Hà Nội trong hai buổi phát sóng ngày 21/8 và ngày 22/8/2011 (Tài liệu 1 và tài liệu 2, 02 Clip đính kèm) đã có nội dung vu khống, xuyên tạc, xúc phạm những người biểu tình trong đó có chúng tôi, vi phạm Luật báo chí và Bộ Luật dân sự. Chúng tôi xin nêu một số nội dung vi phạm sau:
Trong hai buổi phát sóng này, HTV1 có đưa hình ảnh của nhiều người biểu tình, trong đó có ảnh của các ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Khải. Chương trình này có những lời bình của HTV1 và ý kiến của một số người như sau:
1-     Lời bình của HTV1, 18:41:25 ngày 21/8: “…việc tham gia biểu tình lại trở thành tấm bia che chắn cho các thế lực thù địch phản động đằng sau đang ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động tư tưởng hằn thù dân tộc…”.
2-     Lời bình của HTV1, 18:42:37 ngày 22/8: “Thời gian gần đây lợi dụng vỏ bọc yêu nước một nhóm người bị các thế lực phản động trong nước và nước ngoài kích động đã tụ tập biểu tình hòng lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin không nắm bắt thông tin đầy đủ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, cản trở và chống đối lực lượng chức năng làm nhiệm vụ.” …
3-     18:43:14, ngày 22/8: Ông Nguyễn Đức Thành, một cựu chiến binh phát biểu: về những người biểu tình “…dâng khẩu hiệu và nói bậy nói bạ… ”.
4-     Lời bình của HTV1: 18:44:03, ngày 22/8: “là những người con của Hà Nội đã từng cầm súng ra trận bảo vệ tổ quốc các cựu chiến binh như ông Khoa ông Thành vô cùng bức xúc trước những hành động tự phát của một số kẻ xấu đã chà đạp lên tình cảm yêu nước chân chính của người dân Thủ Đô. Để có được cuộc sống thanh bình hạnh phúc hơn bao giờ hết lúc này mỗi người dân Hà Nội đang chúng sức chung lòng nỗ lực phấn đấu lao động sản xuất và chiến đấu quyên mình, chính vì vậy trước hành vi của một nhóm người tập trung trái phép mang theo băng rôn biểu ngữ và hô khẩu hiệu gây mất an ninh trật tự khiến cho nhân dân trong khu vực hết sức bất bình”.
5-     18:44:57, ngày 22/8: Bà Nguyễn Thị Đài: “theo tôi nghĩ thì ở đây có một sự kích động nào đấy của các thế lực phản động chứ không phải là yêu nước. …chính quyền bây giờ phải dẹp mà kiên quyết với những phần tử phản động ấy chứ không nếu không cứ lan tràn ra những lớp thanh niên trẻ là họ không có nhận thức đúng đắn được thì nói chung là nhiều khi là nguy hiểm”.
Ngày 26/8/2011, chúng tôi có Thư yêu cầu Đài PT-TH Hà Nội đăng phát biểu của chúng tôi về một số nội dung đã phát sóng của Đài PT-TH Hà Nội liên quan đến những người biểu tình và yêu cầu Đài này xin lỗi, cải chính (Tài liệu 3).
Ngày 31/8/2011, ông Trần Gia Thái, Tổng Giám đốc Đài PT-TH Hà Nội đã có thư trả lời (Tài liệu 4), phản hồi Thư yêu cầu trên của chúng tôi, nhưng không thể hiện sẽ đăng bài phát biểu của chúng tôi trên Đài truyền hình theo Luật báo chí, không xin lỗi, cải chính về những nội dung đã phát vu khống, xuyên tạc, xúc phạm những người biểu tình. Vì vậy, chúng tôi làm Đơn khởi kiện này để yêu cầu Đài PT-TH Hà Nội và nhóm phóng viên liên quan phải chịu trách nhiệm trước Pháp luật về những hành vi vi phạm Luật báo chí và Bộ Luật dân sự do họ gây ra.
IV.            Những căn cứ pháp lý cho việc khởi kiện:
A/ Luật báo chí (ban hành năm 1989 và được sửa đổi bổ sung năm 1999)
Điều 9. Cải chính trên báo chí
1- “Báo chí khi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải đăng, phát sóng lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả…
2- Tổ chức, cá nhân có quyền phát biểu bằng văn bản về những nội dung đề cập trên báo chí khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến mình. Cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân đối với thông tin đã được đăng, phát sóng trên báo chí của mình.
Lời phát biểu của tổ chức, cá nhân không được xúc phạm cơ quan báo chí, danh dự, nhân phẩm của tác giả.
Kể từ khi nhận được lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì trong thời hạn năm ngày đối với báo ngày, đài phát thanh, đài truyền hình, mười ngày đối với báo tuần, trong số ra gần nhất đối với tạp chí, cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu đó.
3- Lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả và lời phát biểu của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được đăng, phát sóng tương xứng với thông tin do báo chí đã đưa ra theo quy định của Chính phủ.
4- Trong trường hợp cơ quan báo chí không cải chính, xin lỗi hoặc cải chính, xin lỗi không đúng các quy định của Luật này, không đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì tổ chức, cá nhân đó có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án”.
Điều 10. Những điều không được thông tin trên báo chí
“Để quyền tự do ngôn luận trên báo chí được sử dụng đúng đắn, báo chí phải tuân theo những điều sau đây:
Không được kích động nhân dân chống Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn kết toàn dân;
……..
4- Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân”.
B/ Nghị định số 51/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
Điều 4. Cải chính trên báo chí
……..
“3. Cơ quan báo chí nhận được lời phát biểu bằng văn bản của tổ chức, cá nhân về những nội dung đề cập trên báo chí của mình khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến họ thì phải đăng, phát lời phát biểu đó đúng vị trí, chuyên mục mà báo chí đã đăng, phát thông tin. Lời phát biểu không được vượt quá diện tích, thời lượng đã đăng, phát nội dung thông tin nói trên.
Trường hợp không nhất trí với lời phát biểu của tổ chức, cá nhân, cơ quan báo chí có quyền thông tin tiếp làm rõ quan điểm của mình. Sau ba (3) lần đăng, phát ý kiến phát biểu của tổ chức, cá nhân và cơ quan báo chí mà không có sự nhất trí giữa hai bên thì cơ quan quản lý nhà nước về báo chí có quyền yêu cầu ngừng đăng, phát các thông tin của đương sự. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến cơ quan chủ quản của báo chí đó, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.
……
Cơ quan báo chí có quyền không đăng, phát lời phát biểu của tổ chức, cá nhân nếu lời phát biểu của tổ chức, cá nhân đó vi phạm pháp luật, xúc phạm đến uy tín, danh dự của cơ quan báo chí, tác giả. Trong trường hợp đó cơ quan báo chí phải gửi văn bản báo cho tổ chức, cá nhân biết, nói rõ lý do, đồng thời phải gửi báo cáo bằng văn bản tới cơ quan quản lý nhà nước về báo chí”.
Điều 5. Những điều không được thông tin trên báo chí
……..
“3. Không được đăng, phát ảnh của cá nhân mà không có chú thích rõ ràng hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân đó (trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thể, các buổi lao động, biểu diễn nghệ thuật, thể dục thể thao, những người có lệnh truy nã, các cuộc xét xử công khai của Tòa án, những người phạm tội trong các vụ trọng án đã bị tuyên án)”.
C/ Bộ Luật dân sự 2005:
Điều 31. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.
3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
“Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”.
Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. “Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định”.
D/ Bộ Luật tố tụng dân sự 2005:
Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
…..
“6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
…..
8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật.
9. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định”.
Điều 56. Đương sự trong vụ án dân sự
…..
“4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…”.
Điều 163. Phạm vi khởi kiện
……
“2. Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án”.
V.               Những yêu cầu của Nguyên đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết:
1. Xác định Đài PT-TH Hà Nội đã vu khống, xuyên tạc, xúc phạm nghiêm trọng đến những người biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn, trong đó có chúng tôi, thông qua việc Đài này vào các ngày 21/8 và 22/8/2011 đã đăng những ngôn từ được trích dẫn nêu trên. Đặc biệt trong những chương trình phát sóng này có những ngôn từ không thể chấp nhận được để nói về những người biểu tình, như: “tấm bia che chắn cho thế lực thù địch phản động”, “bị các thế lực phản động trong nước và nước ngoài kích động”, “nói bậy nói bạ”, “một số kẻ xấu đã chà đạp lên tình cảm yêu nước chân chính của người dân Thủ Đô”, “một sự kích động nào đấy của các thế lực phản động chứ không phải là yêu nước”, “kiên quyết với những phần tử phản động ấy”. Với những ngôn từ này, Đài PT-TH Hà Nội đã coi chúng tôi là những kẻ xấu, phản động và có mối liên hệ trực tiếp với những thế lực thù địch phản động. Chúng tôi, những người trong danh sách Nguyên đơn, hầu hết đã hoặc đang làm trong các cơ quan, đơn vị Nhà nước, nhiều người đã tham gia các lực lượng vũ trang, đã hoặc đang là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, là những công dân chấp hành tốt pháp luật Việt Nam. Việc chúng tôi biểu tình thể hiện lòng yêu nước là thực hiện quyền biểu tình đã được Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam tôn trọng và bảo đảm (Điều 69 Hiến pháp 1992). Đề nghị Tòa án xác định việc Đài PT-TH Hà Nội coi biểu tình yêu nước là phản động hoặc do thế lực phản động kích động là thông tin phá hoại khối đoàn kết toàn dân (vi phạm Điều 5 khoản 1 Luật báo chí).
2. Xác định Đài PT-TH Hà Nội không đăng tải Thư yêu cầu đề ngày 26/8/2011 (Tài liệu 1) là vi phạm Điều 9 khoản 2 Luật báo chí và Điều 4 khoản 3 Nghị định 51/2002/NĐ-CP.
3. Xác định Đài PT-TH Hà Nội đăng ảnh những người biểu tình, trong đó có các ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Huệ Chi mà không được sự đồng ý của những người này là vi phạm Điều 31 khoản 2 và khoản 3 Bộ Luật dân sự, và Điều 5 khoản 3 Nghị định 51/2002/NĐ-CP.
4. Buộc Đài PT-TH Hà Nội phải bồi thường thiệt hại cho các nguyên đơn và những người biểu tình khác. Cụ thể như sau:
4.1. Do có hai chương trình phát sóng vào 2 ngày khác nhau (ngày 21/8 và 22/8/2011) có nội dung vu khống xuyên tạc, xúc phạm người biểu tình, nên xác định có 2 hành vi vi phạm của Đài PT-TH Hà Nội. Tương ứng mỗi hành vi vi phạm, Đài PT-TH Hà Nội phải bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần cho mỗi nguyên đơn và mỗi người biểu tình khác 10 tháng lương tối thiểu tức 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), phù hợp với Điều 611 khoản 2 Bộ Luật dân sự. Như vậy, Đài PT-TH Hà Nội phải bồi thường cho mỗi nguyên đơn và mỗi người biểu tình khác 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) cho 2 lần vi phạm.
4.2. Do đăng ảnh những người biểu tình không được sự đồng ý của họ, làm tổn thương đến uy tín và nhân phẩm của họ, nên Đài PT-TH Hà Nội phải bồi thường cho mỗi người bị đăng ảnh mỗi lần đăng là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), phù hợp Điều 611 khoản 2 Bộ Luật dân sự. Trước mắt các ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Khải và Nguyễn Huệ Chi yêu cầu Đài PT-TH Hà Nội bồi thường cho mỗi ông 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) cho việc đăng ảnh 2 lần.
Những nguyên đơn ký Đơn khởi kiện này tuyên bố toàn bộ số tiền do Đài PT-TH Hà Nội bồi thường cho họ sau khi trừ các chi phí kiện tụng sẽ chuyển cho một số Quỹ trợ giúp những ngư dân Việt Nam bị thiệt hại bởi những hành vi xâm hại từ phía Trung Quốc.
4.3. Buộc Đài PT-TH Hà Nội phải đăng lời phát biểu của những người biểu tình (trong đó có chúng tôi) về nội dung phát sóng của Đài này trong các ngày 21/8 và 22/8/2011. Lời phát biểu này phải được phát sóng 2 lần trong 2 ngày từ khoảng 18h30 – 19h trong ngày.
4.4. Buộc Đài PT-TH Hà Nội phải đăng lời xin lỗi và cải chính do đã phát nội dung vu khống, xuyên tạc, xúc phạm nghiêm trọng đến những Nguyên đơn và những người biểu tình khác theo đúng Luật báo chí.
4.5. Buộc Đài PT-TH Hà Nội xin lỗi các ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Khải và Nguyễn Huệ Chi và những người biểu tình khác vì đã đăng ảnh họ mà không xin phép họ trước.
Trên đây là nội dung Đơn Khởi kiện của chúng tôi đối với Đài PT-TH Hà Nội. Chúng tôi sẽ bổ sung yêu cầu, tài liệu, chứng cứ sau khi Tòa án thụ lý Đơn Khởi kiện theo yêu cầu hoặc sự cho phép của Tòa án. Kèm theo Đơn Khởi kiện này là những tài liệu 1 và 2 (02 Clip về buổi phát sóng 21/8/2011 và 22/8/2011), tài liệu 3, 4 (Thư yêu cầu đề ngày 26/8/2011 của những người biểu tình gửi Đài PT-TH Hà Nội và Thư trả lời đề ngày 31/8/2011 của ông Tổng giám đốc Đài này).
Trong quá trình giải quyết Đơn Khởi kiện này, chúng tôi những Nguyên đơn ủy quyền cho các ông Hà Huy Sơn, địa chỉ 50/106/79 Cầu Giấy, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, điện thoại: 0903.222.888, ông Nguyễn Đăng Quang, địa chỉ số 07, tổ 1, đường Bờ Sông Tô Lịch, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội, điện thoại: 0903.209.626 thay mặt cho chúng tôi nhận và gửi những đơn từ liên quan đến vụ kiện này.
NHỮNG NGƯỜI KHỞI KIỆN KÝ TÊN VÀO ĐƠN KHỞI KIỆN (Kiện Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội đã phát sóng truyền hình có nội dung vu khống, xuyên tạc, xúc phạm những người biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn, vi phạm Luật Báo chí và Bộ Luật Dân sự):
clip_image001clip_image002

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh

07/09/2011

Trích dẫn lịch sử thì phải đầy đủ và đúng thực chất

Nguyễn Trọng Vĩnh
image Tình cờ tôi đọc được những đoạn trích dẫn lịch sử của ông Tạ Ngọc Tấn nói chuyện ở đâu đó. Thấy ông cắt xén lịch sử xúc phạm những người biểu tình yêu nước, đổi trắng thay đen mà ngứa ngáy cả người, nên phải viết những dòng dưới đây để bổ khuyết cho ông ta.
Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 của ta, phá cáp của tàu Viking II đang thăm dò trong thềm lục địa của ta, gây hấn ở Biển Đông khiến những người yêu nước bức xúc phải biểu tình phản đối. Trong số người biểu tình có dân, có cựu chiến binh, có thanh niên, sinh viên, cựu công an và nhiều nhân sĩ trí thức có tên tuổi như các nhà văn, tiến sĩ, giáo sư...: Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, Ngô Đức Thọ, Đỗ Xuân Thọ, Phạm Duy Hiển, Nguyễn Huệ Chi, Chu Hảo, Nguyễn Đông Yên, Lê Đăng Doanh, Nguyễn Xuân Diện, v.v. Thế mà ông Tấn dám bảo là “phụ họa với Đảng Việt Tân”?
Ông Tấn là loại trí thức gì mà dám xúc phạm những vị trí thức chân chính, yêu nước, dám nói những người biểu tình là “phá hoại quan hệ Việt - Trung”. Ai phá hoại? Đâm chìm tàu cá của ngư dân ta, bắt, bắn ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ của họ, cấm ngư dân ta đánh cá trong vùng độc quyền kinh tế của Việt Nam, cắt cáp tàu Bình Minh, phá cáp tàu Viking II... Chính Trung Quốc mới là người phá hoại quan hệ Việt - Trung.
Biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam mà ông Tấn bảo là “phá nước” (!). Ai phá nước dân biết.
Ý chừng để khuyên mọi người nên nín nhịn Trung Quốc bất kể họ ngang ngược thế nào, ông Tấn dẫn chứng lịch sử: “Ông cha ta rất khôn ngoan giữ hòa hiếu, chịu sắc phong, triều cống đủ thứ...”. Đấy chỉ mới là một vế, thực chất không đơn giản chỉ có thế!
Phải nói từ đầu. Các triều đại Trung Quốc từ Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều nuôi tham vọng và dã tâm thôn tính thống trị An Nam. Nước ta luôn phải đối mặt với hiểm họa phương Bắc. Triều đại nào cũng huy động đại quân xâm lược nước ta hòng thực hiện tham vọng. Lần nào cũng bị vua sáng tôi hiền cùng với dân đoàn kết một lòng đánh cho tơi bời, bỏ cả ấn tín mà chạy, chui vào ống đồng để thoát chết. Sau đó có chuyện “cầu phong”, “triều cống”. Nhưng “cầu phong”, “triều cống” trên tư thế của kẻ chiến thắng chứ không phải hèn yếu, cốt lõi là giữ vững độc lập chủ quyền.
“Cầu phong”, “triều cống” là để cho đẹp mặt nước lớn, là hình thức, là sách lược xoa dịu bớt nỗi hận và lòng tự ái của kẻ bại trận để tránh phải kháng chiến chống lại họ một lần nữa hao người tốn của. Còn “phong” hay không thì các vua Lý, Trần... vẫn là vua của nước Nam độc lập. Bắc triều không can thiệp vào nội bộ nước ta được, không chi phối, sai xử vua Nam được. Độc lập là bất khả xâm phạm thể hiện trong 4 câu thơ của Lý Thường Kiệt:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch Lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
 
Ông Tấn cũng nhắc đến vấn đề “Trung Quốc giúp ta trong kháng chiến Pháp và chống Mỹ như môi với răng”. Đúng! Có thế. Trong kháng chiến chống Mỹ, nếu Liên Xô giúp ta xe tăng, máy bay, tên lửa, thì Trung Quốc cũng giúp ta quân trang, vũ khí, tài chính và nhiều thứ. Khối lượng khá lớn. Mặc dầu sự giúp đỡ ta cũng có lợi ích của Trung Quốc, có động cơ và mục đích riêng, nhưng nhân dân và Chính phủ ta vẫn rất biết ơn.
Chính tôi cũng từng mặc quân phục, ăn lương khô, cala thầu mà Trung Quốc viện trợ. Ngày chúng ta toàn thắng giải phóng miền Nam, trong cuộc mít tinh lớn tại Thiên An Môn do Trung Quốc tổ chức chào mừng, là Đại sứ nước ta, trong bài diễn văn, tôi đã hết lời ca ngợi và bày tỏ lòng biết ơn chân thành của Nhà nước ta đối với sự giúp đỡ to lớn của Chính phủ và nhân dân Trung Quốc anh em.
Nhưng đến tháng 2-1979, nhà cầm quyền Trung Quốc huy động hàng chục vạn quân bất ngờ tấn công tàn phá các tỉnh biên giới của ta, giết hại đồng bào ta thì tự họ đã xóa sạch mọi ân tình. Tôi không thể hàm ơn được nữa. Sự kiện này chắc vì vô cảm nên ông Tấn không nhớ.
Ông Tấn nói: “Tranh chấp biên giới trên đất liền thực ra ta có mất gì đâu”. Ông đâu biết (hay cố tình không biết?) từ bao đời nay dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang đất ta rất nhiều, chôn mả bên ta, làm đường mòn vòng sâu vào đất ta để rồi sau đường mòn đó nghiễm nhiên thành đất Trung Quốc. Thực tế trên biên giới, ta mất già nửa thác Bản Giốc, mất cao điểm 1509 trong huyện Vỵ Xuyên tỉnh Hà Giang, mất mảng đất từ Hữu Nghị Quan đến chợ Tân Thanh. Hữu Nghị Quan xưa là Ải Nam Quan, Nguyễn Trãi đã tiễn cha đến đó. Dân ta nói đất ta mất vào tay Trung Quốc một diện tích bằng khoảng “một tỉnh Thái Bình”.
Ông Tấn còn nói: “Tranh chấp làm gì? Ta cứ gây hấn với Trung Quốc thì được cái gì?”!! Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2, phá cáp tàu Viking II, những người yêu nước Việt Nam tay không biểu tình phản đối lại gán cho là gây hấn. Thật là đổi trắng thay đen một cách trắng trợn, lố bịch!
Tệ hơn nữa là ông ta còn nói: “Mất một chút nào đó để tránh được chiến tranh giữ gìn được hòa bình thì...”. Ô hay! Mất một hòn đảo ư? Hay mất một điểm chiến lược Tây Nguyên để xin hòa bình?! Hay gì nữa?? Thật hết chỗ nói!!
Dù sao ông Tấn cũng là người thuộc dân tộc Việt Nam, ông nên suy nghĩ kỹ, mong rằng từ sau nói gì thì nói cho đúng mực, không nên quá tự hạ mình rồi cắt xén lịch sử, xuyên tạc sự thật, đổi trắng thay đen như vừa rồi.
Kính chào
N.T.V.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

To nhỏ

05/09/2011


To nhỏ sự đời

Hà Sĩ Phu
Mấy hôm nay trời oi ả, mưa nắng thất thường, có thể bạn thấy trong người bực bội. Tôi xin kể hầu bạn câu chuyện “to-nhỏ” tào lao để thư giãn.
Tất nhiên có những chuyện “to-nhỏ” rất nghiêm túc như lời bác Hồ “Nước ta có vinh dự LỚN là một nước NHỎ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc TO” (nhưng rồi “đế quốc TO” khác lại bắt mình thử thách), song dân thì vốn “gian” nên nhiều lúc cứ đem tất cả sự to-nhỏ ra mà cười với nhau:
Ở một nước nho nhỏ có một thủ đô rất to
          Trong cái thủ đô rất to có những con đường rất nhỏ
Bên những con đường rất nhỏ có những cái biệt thự rất to
          Trong cái biệt thự rất to có những cô “vợ nhỏ”
          Những cô “vợ nhỏ” là vui thú của những quan rất to
          Những quan rất to hay xách những cái cặp nho nhỏ
          Trong những cái cặp nho nhỏ có những dự án rất to
          Những dự án rất to thường mang lại những hiệu quả rất nhỏ
          Hiệu quả nho nhỏ nhưng thất thoát lại rất to
Thất thoát rất to nhưng ở nước ta chỉ là chuyện…
nhỏ như con thỏ...

Thế rồi đến chương trình khai thác bô-xít, đáng lẽ là chuyện to phải thông qua Quốc hội, người ta bèn chia thành nhiều đề án nhỏ, thế là trót lọt…
Nhưng đề án này ở tầm “Bộ Chính trị đã thông qua” nên phải đâu chuyện nhỏ, lại thành to…, lúc to lúc nhỏ như cái “của… nợ ”!
Nhưng chuyện to-nhỏ này mới gớm. Xin chép nguyên văn bài Ðón sứ Tàu , mà một blog đã kể lại theo truyền thuyết:
Triều đình chuẩn bị đón sứ nhà Thanh sang nước ta. Chúa nghe nói tên này là kẻ hống hách, hợm hĩnh, bèn kêu (Trạng) Quỳnh vào, giao cho giữ việc nghênh tiếp.
Quỳnh phụng mạng vua, đồng thời xin triệu thêm bà Ðoàn Thị Ðiểm giả làm người bán hàng nước cho khách qua đường, còn mình giả trang làm anh lái đò đưa sứ bộ qua sông.

Khách Tàu đến, đi ngang quán bà Ðiểm, thấy trong hàng có một cô gái xinh xắn ngồi bán, liền hùa nhau kéo vào uống nước, sẵn thói buông lời chọc ghẹo, bỡn cợt. Một tên líu lo đọc bâng quơ:
"Nam bang nhất thốn thổ bất tri kỷ nhân canh"
南 邦一 寸 土 不 知 几 人 耕
(Một tấc đất nước Nam không biết bao nhiêu người cày, ý cho rằng đàn bà nước Nam lẳng lơ)
Bà Ðiểm đang nhai trầu, nhổ toẹt một bãi, đọc:
"Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất"
北 國 諸 大 夫 皆 由 此 途 出
(Bọn quan quyền phương Bắc đều từ chỗ đó mà ra cả)
Nghe xong câu ấy, cả bọn ngừng uống nước, tròn mắt, há hốc miệng nhìn bà Ðiểm. Chúng không thể ngờ rằng một bà bán nước bên đường lại có sức học kinh người đến thế ! (Hết trích).
Tên sứ giả ra câu đối đã có ý cậy thế nước lớn nói lời khinh miệt, chẳng ngờ bị cú “phản biện” trời giáng: những vị tai TO mặt LỚN nhất của nước LỚN nhất của quý ngài cũng từ cái chốn NHỎ nhất, như của những người NHỎ nhất (ngày xưa còn trọng nam khinh nữ) ở cái xứ NHỎ nhất này như tôi đây mà chui ra! Vậy ai to hơn, cái gì to hơn?
Lời giải đáp đầy tính sinh học và hình học (géometrie) không cãi vào đâu được. Vũ khí trời cho nằm ngay trong thân thể mình, nhưng có thành vũ khí được hay không là do cái khí chất anh hùng từ trong tim trong máu mình có còn hay không thôi.
Thế mà những kẻ có vũ khí tuyệt đối trong tay là sức mạnh nhân dân, sức mạnh của tám chục triệu Đoàn Thị Điểm - Trạng Quỳnh, lại mang danh đại diện Tổ quốc, mà tự quỳ xuống trước mặt những tên sứ giả vô danh phương Bắc, nói lời bán nước, xỉ nhục đồng bào, làm nhục quốc thể… thì những cái mặt “đại diện” (rất đại) ấy liệu có dám đối diện với cái “nhất thốn thổ” của con cháu Bà Trưng - Bà Triệu như các chị Minh Hằng, Phương Bích, Kim Tiến… hôm nay hay không?
clip_image002
Nói cái “sự đời” lại động đến cái lá nho. Trời sinh cái lá có diện tích “tương đối” và hình dáng mỹ thuật đủ để làm chức phận che. Có khi cả một “tòa thiên nhiên” tuyệt mỹ cũng cần chút lá để giấu bớt cái đẹp khiến cho cái đẹp thành vô biên. Nhưng có khi ngược lại, cái xấu toàn cục cũng cần chiếc lá che mặt như một ẩn số để níu kéo chút hy vọng, để sự đời khỏi bị đẩy đến chỗ tận cùng.
Nhưng nếu quá đáng, Trời cũng không thương được, nổi lên một “trận gió cuốn cờ” thì lá che cũng rụng, thế là “Point final”!
Khi giới văn nghệ sĩ đầy tính văn hóa và tế nhị đã phải thốt lên “Rõ rồi nhé, rõ mồn một rồi nhé”, Thôi nhé, hiểu quá rõ rồi… thì biết mùa lá nho đã rụng tả tơi theo đồng chí “Nguyễn Trường Tô… hô” hết cả.
Chế độ phong kiến thường dùng những con số lớn như “cửu trùng”, muôn năm, vạn tuế… để mô tả những cái lớn lao, trang trọng, trong khi lại khinh thường phụ nữ, và giả đạo đức bằng cách dè bỉu bộ phận kín đáo, nơi “Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất” ! Chẳng biết có phải để lột trần sự đạo đức giả ấy mà các cụ nhà ta ngày xưa cũng dùng những con số rất lớn như “ba vạn, chín nghìn” để gọi cái nơi khiêm tốn của mình (thực ra là vĩ đại), qua mặt những “cửu trùng, vạn tuế” hay không?
Viết đến đây, tôi xin phép nhắc đến một câu thơ trước đây của mình, liên hệ khăng khít cái nhỏ đơn chiếc với cái lớn lao:
Chính trường rụng một lá nho
Tái tê Ba vạn, tô hô Chín nghìn
nhưng tôi đã sửa lại thành: Tái tê Ba vạn, tô hô Cửu trùng… cho rõ cái ý đối chiếu ấy.
Ngẫm ra tầm cỡ người thấp người cao, nước lớn nước nhỏ cũng do “kích thước” của nhân cách con người, nhân cách dân tộc mà ra cả.
Ngày 5-9-2011
H.S.P.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.