Bài đăng phổ biến

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

CHÍNH THỨC CÔNG BỐ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992, MỜI QUÝ VỊ THAM GIA GÓP Ý

Phamvietdao.net: Chủ blog sẽ mở cuộc trao đổi, thảo luận, góp ý vào việc sửa đổi nội dung bản hiến pháp, mời quý vị tích cực tham gia góp ý bằng hình thức comment, bài viết...

Ảnh minh họa
Theo Nghị quyết số 38/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội, ngày 2/1/2013, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 chính thức công bố Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân.

TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992:

HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1992 (SỬA ĐỔI NĂM 2013)
LỜI NÓI ĐẦU

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, chiến đấu anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất của dân tộc và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh, làm Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Với khát vọng độc lập, tự do, bằng tinh thần tự lực, tự cường, cùng với sự giúp đỡ quý báu của bạn bè và nhân dân thế giới, nhân dân ta đã giành chiến thắng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước và làm nghĩa vụ quốc tế; xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

Qua các thời kỳ kháng chiến kiến quốc, nước ta đã có Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Mỗi bản Hiến pháp đều ghi nhận những thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân Việt Nam đã đạt được, tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển đất nước.

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân và chủ quyền quốc gia; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường; thực hiện công bằng xã hội; tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Nhân dân Việt Nam, với truyền thống yêu nước, đoàn kết một lòng, xây dựng và thi hành Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

CHƯƠNG I: CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ

Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 1)
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.

Điều 2 (sửa đổi, bổ sung Điều 2)
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 3)
Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
11 nhận xét:

Sống với Trung Quốc

(tiếp theo và hết)
Tạ Duy Anh
PHẦN III:
DỰ ĐOÁN HÀNH ĐỘNG CỦA TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG LỰA CHỌN CỦA VIỆT NAM
Tuy nhiên, việc Trung Quốc nuôi ý đồ quyết chiếm đoạt Biển Đông là điều không còn gì phải nghi ngờ. Đừng ai ảo tưởng tin vào thiện chí của Trung Quốc, được quảng bá bằng đủ thứ lời lẽ ngoại giao hoa mỹ. Vấn đề cần quan tâm là họ có khả năng làm được điều đó hay không và phương pháp mà họ sẽ tiến hành.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra phỏng đoán, trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ “doạ” là chính, tìm cách gây áp lực, mua chuộc, ve vãn, chèn ép… để các nước có liên quan đến Biển Đông lâm vào khó khăn phải tìm cách thoả thuận với Trung Quốc theo những điều kiện Trung Quốc đặt ra. Cách Trung Quốc làm vẫn sẽ là tạo ra những sự cố ồn ào rồi nhân đấy áp đặt quan điểm của họ hoặc nếu có thể thì gặm một miếng – như miếng Gạc-ma năm 1988 và miếng Vành khăn năm 1995, 1998. Khi các quốc gia kịp phản ứng thì việc đã ở vào chuyện đã rồi. Nói rõ ra thì Trung Quốc sẽ vẫn chỉ áp dụng biện pháp tằm ăn dâu, gặm từ từ, đánh lấn, quấy nhiễu, chủ động làm phức tạp hoá tình hình để can dự và gây áp lực. Cách làm này của Trung Quốc có lợi thế tuyệt đối với họ.

TIN KINH HOÀNG: 42 TƯỚNG LĨNH ĐÀI LOAN LÀM GIÁM ĐIỆP CHO TRUNG QUỐC; VIỆT NAM BAO NHIÊU ?

Hoàn Cầu: Tổng tham mưu trưởng Đài Loan làm gián điệp cho Trung Quốc

Thứ tư 02/01/2013 13:00 
 
(GDVN) - 8 Thượng tướng 3 sao, 18 Trung tướng, 16 Thiếu tướng, 25 Thượng tá, 14 Trung tá, 4 Thiếu tá tham gia đường dây gián điệp của Bắc Kinh.
 
Thời báo Hoàn Cầu ngày 1/1 dẫn nguồn tin tờ Apple Đài Loan cho hay, vụ Thiếu tướng La Hiền Triết, cựu Cục trưởng Thông tin bộ tư lệnh lục quân Đài Loan bị xử tù chung thân hồi năm ngoái do làm gián điệp cho Trung Quốc tưởng đã êm xuôi, nhưng gần đây lại lộ ra một bản danh sách 87 sĩ quan quân đội Đài Loan được cho là tham gia đường dây làm gián điệp cho Trung Quốc.

La Hiền Triết, lon Thiếu tướng bị xử tù chung thân vì tội làm gián điệp cho Trung Quốc
Đặc biệt trong số sĩ quan bị phát hiện làm gián điệp cho Trung Quốc bị phanh phui lần này có cả 2 viên quan chức cấp cao gồm Hoắc Thủ Nghiệp, Thượng tướng cấp 1 (4 sao, tương đương cấp Đại tướng) cựu Tổng tham mưu trưởng và Lâm Trấn Di, Tổng tham mưu trưởng sắp mãn nhiệm, lon Thượng tướng 4 sao.
Hoắc Thủ Nghiệp, cựu Tổng tham mưu trưởng Đài Loan đã nghỉ hưu, lon Thượng tướng 4 sao và vợ

CHIẾC "VÒI BẠCH TUỘC" BẮC KINH ĐANG LUỒN SÂU TRONG PHỦ TẠNG CỦA "CHÚ LÀO HẮC XẠT"

Lời bàn của Phúc Lộc Thọ: Cũng giống như Việt Nam, trong chuyện làm ăn với Trung Quốc, người được hưởng lợi, được những "quả tiền tươi, thóc thật..." đó là các chú quan lại; còn hậu quả, nợ nần thì nhân dân cố mà gánh chịu dài lâu...

Có điều các chú quan lại Lào Hắc xạt không chỉ gieo tại họa cho dân Lào anh em mà còn đe dọa sự sống còn của người anh em Việt, một dân tộc đã để lại trên đất nước Lào bao xương máu của con em mình của biết bao thế hệ...
Xin mời quý vị hãy đọc các thông tin ngậm ngùi, cay đắng này vừa đưa trên tờ báo điện tử của Bộ Thông tin-Truyền thông, tờ Infonet ???

Bản đồ hiển thị tuyến đường sắt nối giữa Vân Nam, Trung Quốc và Viên Chăn, Lào dài 420km, dự kiến tiêu tốn của Lào 7 tỷ USD và vô số những vấn đề phát sinh đối với đất nước và con người nước này


Lào có thể phải trả giá vì nhận tiền đầu tư của Trung Quốc

Thứ tư 02/01/2013 12:45
Chính phủ Lào đã phê duyệt dự án xây dựng tuyến đường sắt dài 470km nối liền miền Bắc nước này tới tỉnh Vân Nam Trung Quốc, bất chấp những cảnh báo của các chuyên gia kinh tế quốc tế về cái giá mà nước này sẽ phải trả.

Wang Quan, một ông chủ khách sạn người Trung Quốc tại một thị trấn ở vùng núi nhiệt đới miền Bắc nước Lào, đang chờ đợi khoảng 20.000 công nhân Trung Quốc đầu tiên sẽ đến đây sớm để bắt đầu xây dựng một tuyến đường sắt mới.
Các tuyến đường sắt do Trung Quốc tài trợ cho Lào khá dài và “ngoằn nghoèo”, thông qua hàng chục đường hầm, cầu, mà mục đích cuối cùng của nó là liên kết miền nam Trung Quốc với Bangkok, Thái Lan và sau đó là Vịnh Bengal ở Myanmar, mở rộng đáng kể khu vực thương mại hiện đã rất lớn của Trung Quốc với Đông Nam Á.
Dự án xây dựng đường sắt này vấp phải một số cảnh báo nghiêm khắc từ các tổ chức phát triển quốc tế, tuy nhiên, các chuyên gia vẫn mong đợi nó sớm hoàn thành. Trung Quốc hiện rất coi trọng dự án này bởi nó nằm trong chiến lược kéo Đông Nam Á lại gần của nước này, cung cấp cho Bắc Kinh một con đường để vận chuyển dầu từ Trung Đông.
Các mắt xích quan trọng của đường ray này sẽ chạy qua tỉnh Oudom Xai, nằm giữa Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và thủ đô Viên Chăn, Lào. “Trung Quốc muốn có một đường sắt cao tốc từ Côn Minh đến Viên Chăn”, George Yeo, một cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Singapore cho biết trong một bài phát biểu gần đây tại Câu lạc bộ Kinh doanh ASEAN ở Bangkok.
Ông Yeo, Chủ tịch của hãng Kerry Logistics Network, một công ty vận chuyển hàng hóa chính của Châu Á, được xem là một trong những chuyên gia thông tin tốt nhất về việc mở rộng các tuyến đường thương mại Châu Á mới. “Mục tiêu lớn là Bangkok”, ông nói, “Đó là một thị trường khổng lồ, rất nhiều cơ hội. Từ Bangkok tới Dawei ở Myanmar – con đường cho phép Trung Quốc vượt qua eo biển Malacca”, một điểm đầy tiềm năng giữa Ấn Độ Dương và bờ biển phía đông của Trung Quốc.
Nhưng chưa hẳn Trung Quốc đã thực sự quan tâm tới việc chia sẻ lợi ích từ tuyến đường sắt này. Các nhà phân tích kinh tế quốc tế cho rằng hầu hết các lợi ích sẽ “chảy” về Trung Quốc, trong khi hầu hết các chi phí sẽ do nước chủ nhà gánh chịu. Dự án đường sắt dài 420km, trị giá 7 tỷ USD, gần bằng GDP 8 tỷ USD của Lào. Lào sẽ vay hầu hết số tiền này từ Trung Quốc.
Giữa tháng 11/2012, khi Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tới thăm Viên Chăn nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh các lãnh đạo Á Âu, ông đã dự định tham dự lễ động thổ cho tuyến đường sắt này. Tuy nhiên cuối cùng buổi lễ đã không diễn ra.
Đánh giá của một chuyên gia tư vấn của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc về tuyến đường sắt cho biết các điều khoản ràng buộc của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank) đưa ra sẽ trở thành gánh nặng và gây nguy hiểm đến sự ổn định kinh tế vĩ mô của Lào. Đồng thời, việc xây dựng đường sắt thông qua Bắc Lào sẽ lần lượt biến các nông thôn ở nước này thành bãi chứa chất thải. 

"Lào sẽ vấp phải “một sai lầm đắt giá” nếu các điều khoản này được ký kết. Lào sẽ phải dùng các tài nguyên thiên nhiên, các khoáng chất quý như kali và đồng để làm tài sản thế chấp cho khoản vay khổng lồ của mình", tờ The New York Times bình luận.


Hình ảnh khu phức hợp siêu thị và khách sạn Shengchang do Trung Quốc đầu tư tại thị trấn vùng cao Muang Xai, tỉnh Oudom Xai, Lào.
Các nhà tài trợ quốc tế khác cũng lặp lại cảnh báo này gửi đến Lào. Các đối tác, bao gồm Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) cũng như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã bày tỏ mối quan tâm và đưa ra lời cảnh báo “phải rất cẩn thận” tới Chính phủ Lào.
Tuy nhiên, Quốc hội nước này đã phê duyệt dự án như là một phần của thỏa thuận đường sắt xuyên Châu Á đã được 20 quốc gia Châu Á ký năm 2006. Dự án được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sự ủng hộ của Phó thủ tướng Somsavat Lengsavad, người có xu hướng thân Trung Quốc.
Đầu tư thương mại Trung Quốc bùng nổ tại khu vực Đông Nam Á đã đạt mức 370 tỷ USD trong năm 2011, gấp đôi đầu tư từ phía Mỹ. Đến năm 2015, khi các nước Đông Nam Á hoàn thiện cộng đồng kinh tế, Trung Quốc dự tính đầu tư thương mại tới khu vực này khoảng 500 tỷ USD.
Yolanda Fernandez Lommen, Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại Bắc Kinh, cho biết ngay cả khi Trung Quốc xuất khẩu rất nhiều loại hàng hóa tới khu vực này thì họ sẽ vẫn phải nhập khẩu các loại tài nguyên thiên nhiên và hàng hóa trung gian cho guồng máy xuất khẩu từ chính ASEAN.
Châu Âu, Mỹ và Nhật Bản là những đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, nhưng ASEAN là khu vực “địa chiến lược và kinh tế quan trọng nhất” đối với nước này với quan điểm đầu tư và đối tác thương mại ngày càng trở nên quan trọng.
Lào sẽ cung cấp một bệ phóng hoàn hảo cho bước tiến tham vọng của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc đã đổ khoản đầu tư mới vào Viên Chăn, trong đó có hàng chục biệt thự sang trọng được xây dựng dọc sông Mekong để các nhà lãnh đạo Châu Á và Châu Âu tới tham dự cuộc họp thưởng đỉnh hồi tháng 11.
Một hội trường mới lạ cho hội nghị cũng được xây dựng, là một phần của khu phức hợp Viên Chăn – New World do Trung Quốc đầu tư, trang trí cho một bộ mặt mới thế kỷ 21 vốn khá tồi tàn của Lào. Ở Luang Prabang, một điểm du lịch nổi tiếng, nơi tuyến đường sắt chạy qua, Trung Quốc đã xây dựng các bệnh viện, nâng cấp sân bay.
Theo tờ The New York Times, rất nhiều người dân Lào không hài lòng với sự hiện diện ngày càng nhiều của Trung Quốc, đã khiếu nại rằng đất nước của họ đang dần trở thành một tỉnh, hay nói cách khác, là một nước "chư hầu" của Trung Quốc.
Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đến thăm Lào vào hồi tháng Bảy, chuyến thăm đầu tiên của một nhà ngoại giao hàng đầu Hoa Kỳ tới đây từ những năm 1950 như là một động thái trong nỗ lực của chính quyền Obama nhằm tăng cường mạnh mẽ quan hệ kinh tế và quân sự tại khu vực Đông Nam Á nhằm đối trọng với Trung Quốc. Tuy nhiên, hiện nay, hiệu quả của chuyến thăm vẫn chưa thể hiện một cách rõ rệt tại đất nước Triệu voi.
Một nhà ngoại giao nước ngoài đã nói rằng Viên Chăn và Bắc Kinh sẽ tìm thấy cách để đưa lên bàn giấy những vướng mắc tài chính của họ. “Trung Quốc luôn có cách của họ”, ông nói.
Tại Oudom Xai, các doanh nhân người Trung Quốc đã thành lập một trường học bằng tiếng Trung Quốc có 400 học sinh và 28 giáo viên, tất cả chi phí được trả bởi Chính phủ Trung Quốc. Ông Wang, chủ một khách sạn tại đây bày tỏ sự tin tưởng dự án đường ray xe lửa sẽ bắt đầu trong vài tuần tới. Người Lào tại đây đã cho dân nhập cư Trung Quốc thuê khoảng một nửa diện tích đất nông nghiệp xung quanh thị trấn, ông Wang cho biết.
“Bạn có thể thuê đất trong nhiều năm nếu bạn có tiền”, ông Wang nói, “Người dân ở đây nhận tiền, không quan tâm người thuê là ai”.
( http://infonet.vn/The-gioi/Lao-co-the-phai-tra-gia-vi-nhan-tien-dau-tu-cua-Trung-Quoc/49260.info)
--------------------------

Lào trước dự án đường sắt khổng lồ từ Trung Quốc

Ông Wang Quan, chủ nhân mới của một khách sạn tại Udom Xay, một thị trấn miền núi phía bắc Lào, đang ôm hy vọng rằng khi hàng chục nghìn nhân công Trung Quốc đến đây xây đường sắt, ông sẽ kiếm bộn tiền.

Dự án xây dựng đường sắt khổng lồ ở Lào, chạy từ miền nam Trung Quốc xuống, qua hàng loạt hầm đèo và cầu, sẽ qua thủ đô Vientian và cuối cùng nối với Bangkok, rồi sau đó vươn ra vịnh Bengal tại Myanmar, mở rộng giao thương của Trung Quốc xuống một vùng rộng lớn ở phía nam.

Một xe thi công chạy qua đường quốc lộ 13 ở tỉnh Udom Xay phía bắc Lào. Ảnh: NYT
Một xe thi công chạy qua đường quốc lộ 13 ở tỉnh Udom Xay phía bắc Lào. Ảnh: NYT

Các nhân công Trung Quốc dự kiến sẽ đổ bộ xuống thị trấn chỉ cách biên giới nước họ 80 km về phía bắc. Dù vấp phải một số sự phản đối của các tổ chức phát triển quốc tế, dự án này chắc chắn sẽ được thi hành. Dự án sẽ giúp Bắc Kinh kéo các nước ASEAN vào gần quỹ đạo của mình hơn nữa, và mở thêm cho Trung Quốc một con đường mới để tiếp cận vùng giàu dầu lửa Trung Đông.
Một trong các đoạn quan trọng của tuyến đường này sẽ nối thủ đô Vientian của Lào với Côn Minh, thủ phủ tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Con đường sắt đó đi qua Udom Xay.
"Trung Quốc muốn có đường sắt cao tốc Côn Minh - Vientian", George Yeo, cựu ngoại trưởng Singapore phát biểu trong một diễn đàn doanh nghiệp mới đây ở Bangkok.
Ông Yeo, hiện là giám đốc Kerry Logistics Network, một hãng lớn trong ngành vận tải và phân phối ở châu Á, được cho là một trong các chuyên gia thạo tin nhất về các dự án giao thông mới ở khu vực. "Mục tiêu lớn chính là Bangkok. Đó là một thị trường khổng lồ, có vô số cơ hội. Rồi từ Bangkok, sẽ đến Dawei ở Myanmar, tuyến đường đó giúp Trung Quốc bỏ qua eo biển Malacca - một điểm có nguy cơ gây tắc nghẽn giữa Ấn Độ Dương với Thái bình dương.
Dự án dài 420 km có giá 7 tỷ USD, sẽ được thực hiện theo cách Trung Quốc cấp tín dụng cho Lào. Khoản tiền khổng lồ này không kém là bao so với tổng thu nhập quốc nội hàng năm 8 tỷ USD của Lào, quốc gia hiện chưa có hệ thống đường sắt trong khi mạng lưới đường bộ đã lạc hậu, chủ yếu gồm các con đường được xây dựng từ thời Pháp thuộc.
Hồi tháng 11, khi thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo sang Vientian dự hội nghị Á - Âu, ông được dự kiến sẽ dự lễ khởi công dự án đường sắt, nhưng lễ khởi công khi đó không diễn ra.

Các ống cống bằng bê tông tập kết ở Udom Xay, chuẩn bị cho việc xây dựng tuyến đường sắt. Ảnh: NYT
Các ống cống bằng bê tông tập kết ở Udom Xay, chuẩn bị cho việc xây dựng tuyến đường sắt. Ảnh: NYT
Một bản nghiên cứu đánh giá do LHQ tài trợ đi đến kết luận rằng khoản tín dụng hào phóng đến mức nó có thể khiến "sự ổn định kinh tế vĩ mô của Lào lâm nguy". Mặc khác, dự án có thể mang đến những bất lợi về tài nguyên và môi trường cho Lào, nếu theo đúng các điều kiện đề xuất, Lào sẽ cung cấp cho Trung Quốc quặng phốt pho và đồng, để đổi lấy việc được cấp tín dụng.
Các nhà tài trợ quốc tế khác như Ngân hàng phát triển châu Á, Ngân hàng thế giới và IMF ở Lào, cũng cho rằng nước này "cần thận trọng", một nhà ngoại giao cho biết.
Dù thế nào, quốc hội Lào đã thông qua dự án như một phần trong kế hoạch tổng thể về tuyến đường sắt liên Á được ký giữa gần 20 nước vào năm 2006.
Tổng kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á bùng nổ, lên mức 370 tỷ USD trong năm 2011, gấp đôi mức của Mỹ. Đến 2015, khi các nước ASEAN hình thành cộng đồng kinh tế như dự kiến, thì mức trao đổi thương mại với Trung Quốc ước tính lên 500 tỷ. Dù Trung Quốc xuất rất nhiều loại hàng hóa sang ASEAN, nước này phụ thuộc các láng giềng về nguồn tài nguyên và bán thành phẩm - những thứ phục vụ cho các ngành kinh tế hướng xuất khẩu của Trung Quốc.
"ASEAN ngày càng trở nên quan trọng về kinh tế và địa chính trị đối với Trung Quốc, ngày càng đóng vài trò quan trọng trong thương mại và đầu tư", Yolanda Fernandez Lommen, trưởng chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Phát triển Á châu ở Bắc Kinh, nhận xét.
Lào là xuất phát điểm lý tưởng cho các bước đi đầy tham vọng tiếp theo của Trung Quốc. Nước láng giềng phía bắc đã rót nhiều tiền đầu tư, trong đó có việc xây dựng hàng chục ngôi biệt thự bên bờ sông Mekong để phục vụ lưu trú cho các nhà lãnh đạo châu Âu và châu Á trong hội nghị thượng đỉnh tháng 11 vừa rồi. Một cung hội nghị sang trọng, là một phần của tổ hợp Vientiane New World, mang lại một sắc thái hiện đại cho thành phố Vientian trầm lặng. Tại cố đô Luang Prabang, điểm đến du lịch ưa thích ở Lào, Trung Quốc đã đầu tư xây dựng các bệnh viện và nâng cấp sân bay.
Trong khi đó, Mỹ cũng đang tìm cách tăng ảnh hưởng ở quốc gia này, sau nhiều chục năm dường như bỏ quên. Chuyến công du tới Lào của ngoại trưởng Hillary Clinton hồi tháng 7 là chuyến đi đầu tiên của một ngoại trưởng Mỹ kể từ những năm 1950.
Tại Udom Xay có một trường dạy tiếng Trung Quốc với 400 học sinh và 28 giáo viên, hoạt động nhờ tiền tài trợ của các doanh nhân Trung Quốc. Ông chủ khách sạn tên Wang tin tưởng rằng dự án đường sắt sẽ được khởi công trong vài tuần nữa. Kể từ khi đến Lào sinh sống cách đây ba năm, Wang đã mua được một nhà máy chế biến gỗ. Những người Trung Quốc di cư sang Lào ở quanh chỗ ông đã thuê đến một nửa diện tích đất nông nghiệp để canh tác, Wang cho biết.
Tuyến đường sắt này là dự án xây dựng hạ tầng cơ sở lớn nhất từ trước đến nay ở Lào. Công trình dự kiến kéo dài trong 5 năm và sử dụng công lao động của 50.000 công nhân Trung Quốc. Theo kế hoạch, tàu chở khách trên tuyến đường này sẽ chạy với tốc độ lên đến 160 km/h và dừng ở 31 ga sau khi công trình hoàn tất.
Ánh Dương (theo New York Times)
( Vietnamnet )

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Sống với Trung Quốc II

Tạ Duy Anh
II. BIỂN ĐÔNG VÀ ĐIỀU CÓ THỂ XẢY RA
Trung Quốc luôn viện dẫn căn cứ vùng biển lịch sử để bào chữa cho lý do họ muốn chiếm trọn Biển Đông. Một trong những căn cứ mơ hồ đó là tên gọi lấy phương vị dựa theo lục địa Trung Quốc: Biển Nam Trung Hoa. Diễn nôm ra theo ý họ thì đó là vùng biển phíaNam của Trung Quốc. Đây là sự diễn dịch vô lối: từ phương diện thuận tiện cho hàng hải biến thành phương diện chủ quyền. Nó cũng là căn cứ mang màu sắc nước lớn bắt nạt thiên hạ. Trung Quốc chỉ nên lấy đó làm niềm tự hào dân tộc – trên phương diện địa lý, văn hoá, chủng tộc. Thực tế là từng có cả một đại dương mang tên nước Ấn Độ song điều đó không có nghĩa Ấn Độ có chủ quyền toàn bộ cái đại dương mênh mông đó.Mexico trong quan hệ chủ quyền với vịnhMexico sẽ là ví dụ tiếp theo.
Nhưng mọi tranh cãi chỉ là vô ích và vô nghĩa khi chúng ta hiểu người Trung Quốc nghĩ gì và muốn gì.
Người Trung Quốc tự coi họ là trung tâm của thế giới. Đây vừa là sự phô trương văn hoá, niềm hãnh diện tinh thần của một dân tộc lớn, nhưng chính điều đó cũng bắt đầu cho một bi kịch Trung Hoa kéo dài hàng ngàn năm qua chưa tìm ra lối thoát. Các triều đại Trung Hoa, với vị thế của một nước trung tâm, là vua thiên hạ, đã cố công để cho tấm áo khoác ngoài xứng tầm với vóc dáng của họ. Nhưng chính vì sự cao ngạo dân tộc đó mà suốt hàng ngàn năm, nước Trung Quốc thấy tự đủ là một thế giới, không cần phải mở ra bên ngoài, nơi chỉ là phên dậu, man di của họ. Hoàng đế tài giỏi Càn Long trở thành gã vua gàn khi cứ khăng khăng trước sứ thần người Anh là cho dù các ngươi tài giỏi đến đâu, cũng thua xa nước trẫm! (Chỉ mấy chục năm sau, Trung Quốc phải nhục nhã nhượng Hồng Kông cho Anh Quốc và chịu sự sai bảo như một thuộc quốc). Nghe nói Mao không thèm học ngoại ngữ, bởi vì với ông ta “Thế giới phải học tiếng Trung Quốc!”. Đó là một phần lý do khiến Trung Quốc ngủ yên trên ngai vàng suốt nhiều thế kỷ, tụt lại khá xa so với thế giới phương Tây và Nhật Bản.
Bi kịch xuất phát từ sự kiêu ngạo Trung Hoa khiến nước Trung Quốc chậm phát triển, bị canh chừng trên toàn thế giới. Nhưng điều đó chưa thấm vào đâu so với bi kịch về mặt địa lý trước vị thế của một cường quốc. Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nga… đều là những cường quốc thông với thế giới, hoặc có khả năng mở ra mọi hướng. Riêng Trung Quốc thì lọt tỏm giữa các thành trì – xét theo cả hai nghĩa. Phía Bắc là nước Nga khổng lồ, phía Đông là Nhật Bản và không gian “lợi ích cốt lõi về an ninh” của Hoa Kỳ, phía Tây có Ấn Độ án ngữ, thêm vào đó là vùng đệm Hồi Giáo bị cạnh tranh ảnh hưởng mạnh mẽ giữa Hoa Kỳ và Nga. Về mặt địa lý đó đều là những vùng núi non hiểm trở, đất đai cằn cỗi do sa mạc hoá, lại luôn bất ổn về chính trị, sắc tộc, rất khó kiểm soát. Đó là lý do vì sao Trung Quốc quyết tâm gây chiến với Ấn Độ để thôn tính hoàn toàn vùng đất mà Ấn Độ gọi là Nam Tây Tạng làm ngõ ra phía Tây bằng cái giá đắt. Rủi cho họ là mục tiêu đó chưa thành. Như vậy là ba lối ra của gã khổng lồ mơ giấc mơ đại cường đều vấp phải thành luỹ khó vượt qua, thậm chí là không thể vượt qua. Cuối cùng chỉ còn duy nhất ngả phía Nam, nơi có vùng biển rộng gần bằng nửa diện tích Trung Quốc, nối với ba lục địa quan trọng là châu Âu, châu Mỹ, châu Phi (tức là phần lớn thế giới) và hai đại dương chiến lược. Vùng biển này quan trọng với Trung Quốc cả về quốc phòng, kinh tế lẫn giao thương. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là vùng biển này xác định vị thế trung tâm chi phối của Trung Quốc với thế giới về khả năng ảnh hưởng. Nếu cần nói rõ hơn thì sẽ là: Trung Quốc coi Biển Đông của Việt Namlà khu vực Exit của họ, có giá trị bảo hiểm cho những rủi ro dân tộc Trung Hoa về lâu dài. Vì vậy có thể thấy đây là vùng biển yết hầu, có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu bá chủ thế giới của Trung Quốc. Khắc nghiệt nhất với họ là vùng biển ấy lại của người khác, mang sứ mệnh đảm bảo giao thương hàng hải cho cả thế giới. Đây có thể là ý Trời, không muốn quả địa cầu này đến lúc nào đó chỉ còn duy nhất giống người mang dòng máu Hán. Không dân tộc nào có lỗi với Trung Quốc trong vấn đề này. Những gì họ đang làm là hành động cưỡng lại định mệnh xuất phát từ tham vọng mang tinh thần Đại Hán. Hãy giả định Trung Quốc làm chủ phần biển nằm trong đường chữ U do họ tự vẽ. Khi đó toàn bộ nguồn tài nguyên dưới đáy biển, được dự đoán là cực kỳ lớn, thuộc về họ, là thứ của dự trữ tự nhiên, khổng lồ gấp trăm lần vài ngàn tỷ USD dự trữ hiện nay của họ. Toàn bộ nguồn hải sản, đủ nuôi sống hàng trăm triệu người, cũng thuộc về họ. Hình dung tiếp: ngày nào đó thế giới cạn dầu, trong khi Trung Quốc vẫn rủng rỉnh, họ sẽ có quyền đưa ra những quyết định khiến thế giới phải phục tùng. Khi có thể đưa ra bất cứ quyết định nào về Biển Đông, Trung Quốc cũng dễ dàng hơn trong việc bắt chẹt Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là chiến lược thu hồi Đài Loan, hoặc chính Đài Loan, trong thế kẹt không còn sự lựa chọn, phải tự nguyện trở về với Đại Lục.
Lý do thứ tư mang tính võ đoán nhưng rất có thể lại là mục tiêu chủ chốt của Trung Quốc: Muốn thực hiện giấc mơ cai quản toàn bộ khu vực Đông Nam Á, chi phối châu Á, tiến tới thống trị ít nhất là một nửa bán cầu. Chính Mao Trạch Đông đã chả từng muốn làm chủ tịch 500 triệu bần nông Đông Nam Á đó sao? Chính ông ta chả muốn đưa người Trung Quốc xuống sinh sống ở Lào,Thái Lan,Myanmar… đó sao? Liệu đây là sự buột miệng của một hoàng đế tự coi mình ngang với trời, hay là mật chỉ cho các thế hệ con cháu? Chúng ta sẽ phải tìm lý do xác đáng cho nhận định này sau một vài sự kiện ởIndonesia, Campuchia hay gần đây làMyanmar… Nhưng nếu chỉ dừng ở những lý do trên, cũng dễ dàng nhận ra, Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để có được điều họ vẫn thèm khát hàng trăm năm qua: Độc chiếm Biển Đông và trở thành đại cường số một thế giới!
Để thực hiện mục tiêu đó, nghe nói Trung Quốc đưa ra đường lối chiến lược 100 năm, lấy mốc là năm 2049, năm kỷ niệm chẵn một thế kỷ thành lập nước Trung Hoa hiện đại! Những năm đầu, do sai lầm trong đường lối kinh tế, do ảo tưởng về sức mạnh Trung Hoa và chủ yếu do mải mê củng cố quyền lực, đấu đá tiêu diệt lẫn nhau, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã khiến đất nước của họ tiều tuỵ, to xác nhưng rỗng ruột, không khiến ai vị nể. Họ đành tạm nuốt xuống mục tiêu đầy tham vọng đã nêu. Và nó được nhớ lại khi ông Đặng Tiểu Bình lên cầm quyền, mở đầu thời kỳ tư bản hoá nền kinh tế, biến Trung Quốc thành một nước phát triển nhanh nhất (đồng thời cũng tàn phá kinh khủng nhất) thế giới trong ba chục năm qua. Cho dù nhiều người thích nói lấy được khi gán mọi sự tiêu cực cho sự vươn dậy của Trung Quốc, thì sức mạnh Trung Quốc vẫn không vì thế mà thiếu tính hiện thực. Giờ đây càng ngày Trung Quốc càng có trong tay nhiều công cụ để thực hiện giấc mơ cường quốc, thậm chí là cường quốc duy nhất. Nhưng họ vẫn chưa thể đủ sức đưa ra những phán quyết theo ý mình khi chưa có trong tay thứ quan trọng đang thuộc về người khác ở cửa ngõ phía Nam. Họ vẫn phải “giấu mình”. Nếu xét kỹ thì chiến lược “giấu mình chờ thời” của Trung Quốc là vì mục tiêu lớn nhất thâu tóm Biển Đông. Trung Quốc có thể gây ảnh hưởng ở châu Phi, có thể chi phốiNam Á… nhưng đó chỉ là những chi phối mang màu sắc thương mại nhất thời. Tại đó Trung Quốc thực hiện cuộc “bòn vét”, “tận thu” thuộc địa mà không phải xua quân đội chiếm đóng, cai quản. Trên thực tế Trung Quốc thực hiện thứ chủ nghĩa thực dân kiểu Hán: Không chiếm đất mà chỉ cần chiếm của cải, sau đó rũ tay phủi trách nhiệm về vô vàn hậu quả họ để lại. Sẽ đến lúc những nền chính trị ở những khu vực đó trưởng thành, họ sẽ xua đuổi Trung Quốc, y như các thuộc địa xua đuổi thực dân châu Âu đầu và giữa thế kỷ trước. Khi đó người Trung Quốc sẽ thay chân người Mỹ trở thành mục tiêu khủng bố của những kẻ dân tộc chủ nghĩa cực đoan. Biển Hoa Đông, với vài hòn đảo tranh chấp, không quá quan trọng với Trung Quốc về kinh tế cũng như mở rộng không gian sinh tồn. Vả lại họ biết rằng không thể vượt qua bức thành trì Nhật Bản có Hoa Kỳ luôn ở phía sau, một cách dễ dàng. Cuối cùng chỉ có thâu tóm Biển Đông, Trung Quốc mới tạo ra được sự chi phối mang giá trị địa chính trị, chi phối về an ninh, tạo bàn đạp để Trung Quốc vươn ảnh hưởng ra toàn cầu. Thiếu cái bàn đạp định mệnh này, giống như Trung Quốc chưa có điểm dậm chân hữu hiệu cho cú nhảy quyết định xem mình ở tầm cao nào. Điều đó giải thích vì sao Trung Quốc giành mọi ưu tiên chiến lược lãnh thổ cho Biển Đông. Để làm điều này, Trung Quốc dùng mọi thủ đoạn chính trị. Một trong những thủ đoạn thành công nhất của họ là đã khiến cho những đối thủ tiềm tàng mất cảnh giác. Đầu tiên họ tìm cách qua mặt Hoa Kỳ bằng cú lừa “trỗi dậy hoà bình”, chờ Hoa Kỳ sa lầy họ mới lộ diện. Với Việt Nam, đối thủ chính cần tiêu diệt đầu tiên nhưng lại khó nuốt nhất, họ đánh lừa bằng 16 chữ vàng, tinh thần 4 tốt, lấy lợi ích đại cục mang tính ý thức hệ làm chính. Chúng ta chưa đủ bằng chứng để kết luận các lãnh tụ hàng đầu của Việt Nam đều tin vào những lời đường mật của Trung Quốc, nhưng rõ ràng, chúng ta đã để cho Trung Quốc dắt mũi khá lâu (trong đó có cả việc khiến người Việt bịt miệng người Việt về chủ quyền lãnh hải) ít ra là cho đến khi họ vẽ đường lưỡi bò trên Biển Đông. Trong khoảng thời gian 20 năm chơi trò gian lận ngoại giao, Trung Quốc đã chủ động cầm cái cuộc chơi ấy, kịp cho họ âm thầm chuẩn bị lực lượng mọi mặt, trong khi Việt Nam và cả Philippines vẫn bình chân như vại. Hải quân, không quân Việt Nam đã thuộc loại yếu, những lực lượng này của Philippines còn yếu hơn, tạo cho Trung Quốc thế thượng phong tuyệt đối trên biển. Chỉ đến khi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của ViệtNam, nhòm ngó bãi cạn Scarborough màPhilippines tuyên bố chủ quyền, lãnh đạo của hai nước mới không còn có thể nhắm mắt bịt tai tự dối lòng mình được nữa.
Một câu hỏi cấp thiết đặt ra là: Với ý đồ chiến lược ấy, liệu Trung Quốc có quyết tâm đánh chiếm Biển Đông bằng một cuộc hải chiến toàn diện hay không và nó xảy ra khi nào?
Trả lời câu hỏi này trước hết phải trả lời được những câu hỏi sau:
- Hải quân và không quân của Trung Quốc nói riêng và tiềm lực của Trung Quốc nói chung thực chất mạnh đến cỡ nào?
- Nếu trận hải chiến toàn diện xảy ra, liệu nó sẽ kéo quốc gia nào vào cuộc?
- Phản ứng mạnh mẽ nhất của Hoa Kỳ sẽ ở mức nào?
- Hậu quả của cuộc hải chiến mà Trung Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào?
Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng khía cạnh một.
Trung Quốc có nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ, có thể nhanh chóng huy động tiềm lực quốc gia nhưng với hơn 1,3 tỉ dân, trong đó già nửa số đó thuộc diện nghèo đói, áp lực an sinh là vô cùng lớn. Trung Quốc luôn phải đối diện với sự rối loạn từ bên trong. Thay vì tập trung cho việc chiến đấu, quân đội Trung Quốc phải thường trực một lực lượng lớn để đề phòng hội chứng “mùa xuân Ả Rập”.
Hải quân, không quân Trung Quốc tuy mạnh lên khá nhanh nhưng chưa đủ áp đảo trong một cuộc chiến mà tầm hoạt động quá xa như ở Biển Đông. Với diện tích mặt nước mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền rộng hơn 3 triệu km vuông, thì lực lượng hải quân của Trung Quốc hiện tại quá mỏng, lại chưa từng qua thử thách chiến trường, trong khi đó đối phương sẽ không bao giờ chịu ngồi yên. Bài học về cuộc chiến biên giới năm 1979 hẳn nhiều nhà quân sự Trung Quốc chưa quên. Lừa được ViệtNammất cảnh giác để bất ngờ mở cuộc đánh úp khiến lực lượng “mỏng dính” của ViệtNamnhanh chóng bị chọc thủng. Nhưng chỉ sau đó vài ngày phía Trung Quốc bắt đầu ngấm đòn từ những chiến binh Việt ngày thường mặc áo nông dân. Trên bộ còn thế nữa là trên biển, nơi chưa bao giờ Trung Quốc được coi là có thế mạnh. Đó là chưa kể sau khi đánh chiếm rồi thì còn phải giữ được nó. Trung Quốc rất biết điểm yếu này. Trung Quốc chưa có tàu sân bay và về lâu dài thì tàu sân bay của Trung Quốc cũng chưa thể hoạt động có hiệu quả. Không quân Trung Quốc giương oai thanh thế với thiên hạ là chính chứ chưa thể với tầm ra toàn bộ Biển Đông, đặc biệt là khả năng khống chế đối phương có bờ biển dài như ViệtNam. Nếu Việt Nam có kế hoạch phòng thủ tốt trên các đảo ở quần đảo Trường Sa, có sự hỗ trợ của không quân Việt Nam với tầm bay ngắn chỉ bằng một nửa của đối phương, thêm vào sự hỗ trợ của tên lửa phòng thủ bờ biển có độ chính xác cao, tên lửa đặt trên các tàu khu trục, tàu ngầm… thì mặc dù mỏng manh hơn Trung Quốc nhiều lần, các lực lượng phối hợp đó vẫn là đối tượng khó vượt qua của Trung Quốc. Vì vậy, ngay cả khi Trung Quốc có thể tự do hành động (ngụ ý không bị cản trở trực tiếp bởi Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ…), Trung Quốc cũng phải tính toán cực kỳ kỹ lưỡng trước khi khai hoả. Nếu chỉ dựa vào sức mạnh thuần tuý, Trung Quốc chưa dám phiêu lưu bằng cuộc chiến tổng lực quá nhiều rủi ro như vậy.
Việc quốc gia nào bị kéo vào cuộc xung đột trực tiếp, phần lớn phụ thuộc vào tính toán của Trung Quốc. Đây là lợi thế của nước lớn. Họ sẽ chủ động điều chỉnh phạm vi chiến trường sao cho không phải phân tán lực lượng và không thách thức công khai Hoa Kỳ. Bằng vào những thực tế chính trị, địa lý hiện tại, có thể trả lời, ngoài Việt Nam, sẽ không có nước nào bị lôi kéo đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Những gì mà Trung Quốc chuẩn bị công phu mấy chục năm qua cho lực lượng hải quân và không quân là để đối đầu và đè bẹp ViệtNam! Những hành động cố làm cho to chuyện ở biển Hoa Đông chỉ là đòn nghi binh của Trung Quốc, để ViệtNam mất cảnh giác. Nhưng Trung Quốc biết rõ những lực lượng nào của thế giới sẽ hậu thuẫn Việt Nam, những lực lượng mà chỉ khi chiến tranh nổ ra họ mới công khai xuất hiện, vì lợi ích của họ và còn cả vì sự căm ghét Trung Quốc là thứ tình cảm có thật vẫn tồn tại trên khắp hành tinh. Điều đó có nguy cơ đẩy Trung Quốc trở thành kẻ chống lại phần lớn thế giới.
Hoa Kỳ là quốc gia duy nhất hiểu sâu sắc và thực tế cái giá đắt mà họ, sau đó đến thế giới phải trả một khi Trung Quốc chiếm được Biển Đông. Nếu để chuyện đó xảy ra, Hoa Kỳ sẽ mất lợi ích và mất quyền lãnh đạo thực sự với thế giới, đặc biệt là với khu vực Thái Bình Dương cực kỳ quan trọng với họ. Ngoài ra Hoa Kỳ còn có nghĩa vụ với đồng minh là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Úc, Singapore… những quốc gia có lợi ích kinh tế và an ninh gắn chặt với Biển Đông. Vì những lý do chiến lược ấy, Hoa Kỳ sẽ quyết tâm ngăn cản bằng các biện pháp gián tiếp để cuộc chiến không xảy ra. Hoa Kỳ làm được điều này, ít nhất là trong tương quan hiện tại. Trung Quốc chưa đủ mạnh và còn rất lâu nữa vẫn chưa đủ mạnh đến mức có thể phớt lờ những cảnh báo mang tính răn đe của Hoa Kỳ!
Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đến yếu tố quan trọng nhất quyết định cuộc chiến Biển Đông có xảy ra hay không, đó là hậu quả của nó mà Trung Quốc phải gánh chịu lớn tới mức nào.
Thế giới này luôn luôn hiện hữu những mối ràng buộc giữa các quốc gia, các châu lục. Trung Quốc, như đã phân tích, cho dù có tiềm lực quốc gia lớn, nhưng vẫn là nước mới thoát nghèo về thu nhập. Trung Quốc luôn luôn có vấn đề nội bộ khiến họ rất khó phình to thêm mà không sợ bị tan vỡ. Chỉ riêng vấn đề Tây Tạng, Tân Cương… có thể sẽ hút cạn vốn liếng chính trị và sự tự tin của họ trong thời gian tới đây. Trên thực tế trong mấy thập kỷ qua Trung Quốc phát triển được là nhờ ở việc chấp nhận có sự phụ thuộc lẫn nhau. Không mở cửa với Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu… không bao giờ Trung Quốc có được vị thế kinh tế, quốc phòng như hiện nay. Mối liên quan ràng buộc chặt chẽ với nhau này khiến mỗi quốc gia không thể tuỳ tiện đưa ra những hành động đơn phương mà không gây tổn thất cho quốc gia khác và cho chính mình. Nền hoà bình thế giới và khu vực được duy trì chính bởi những sợi dây quyền lợi này. Vì thế Trung Quốc sẽ phải lượng xem họ có thể chịu nổi hậu quả của một sự ly khai của thế giới khi họ phát động chiến tranh hay không. Chẳng hạn một lệnh trừng phạt kinh tế của Hoa Kỳ và đồng minh nhắm vào Trung Quốc, nếu họ gây chiến với ViệtNamvàPhilippines. Một sự trừng phạt như vậy là hoàn toàn hiện thực. Và Trung Quốc như một gã khổng lồ với đôi chân yếu, có thể không chịu nổi điều đó nhiều hơn thời gian tối thiểu mà một quốc gia yếu kém có thể chịu đựng. Hoặc chẳng hạn một cuộc tẩy chay Trung Quốc và các lợi ích của Trung Quốc diễn ra trên toàn cầu? Điều này cũng hoàn toàn có thể thành hiện thực. Trung Quốc khi đó sẽ đánh mất toàn bộ thứ giá trị Trung Hoa mà họ gây dựng, cổ suý suốt bao nhiêu năm trước khi có thể trở thành cường quốc thực sự. Đó là chưa kể Trung Quốc có thể phải đối mặt với những cuộc ly khai mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa của các vùng lãnh thổ tự trị rộng lớn, tạo điều kiện cho Ấn Độ mở rộng ảnh hưởng. Bởi vì xã hội Trung Quốc chưa bao giờ thống nhất. Nó luôn tiềm ẩn sự chia rẽ sâu sắc và chỉ chờ cơ hội để nổ ra.
Trên đây chúng ta đã chỉ ra những hạn chế về thực lực quân sự và những ràng buộc chính trị khiến Trung Quốc phải cân nhắc khi họ dự định một cuộc hải chiến lớn ở Biển Đông. Dù sao thì những nhận định đó cũng chỉ là giả thuyết tương đối. Với nền chính trị kiểu Trung Hoa thì một cuộc phiêu lưu quân sự đôi khi được bắt đầu bằng những lý do rất mơ hồ và khó lường. Cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 cũng đã từng nằm ngoài mọi dự đoán của nhiều nhà phân tích trong và ngoài nước, khi họ quá tin vào logic thông thường, chỉ dựa trên những hiện tượng bề nổi. Nhưng còn có thứ logic khác, đó là logic của thứ phi logic mà văn minh Trung Hoa luôn coi đó như một sản phẩm độc đáo. Có thể đã đủ chứng cứ khẳng định cá nhân ông Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết định xâm lược Việt Nam, phần nhiều vì sĩ diện cá nhân và còn vì ông muốn làm một cú test quyền lực cho bản thân. So với cú test của Mao, thì số sinh mạng ông Đặng đem ra đặt cược nhỏ hơn rất nhiều. Ngay cả con số lính Trung Quốc bỏ mạng trong một tháng Nam chinh ấy là 30 ngàn như ước tính của Hoa Kỳ, thì cũng chỉ bằng một phần ngàn số người mà bậc đàn anh của ông làm thịt vì cuộc thử nghiệm quái gở mang tên Cách mạng văn hoá. Nền chính trị Trung Hoa luôn ẩn chứa rủi ro không chỉ cho họ mà còn cho thế giới, vì nó vẫn là một nền chính trị tôn sùng bá đạo, thực chất là một nền chính trị thủ ác, nền chính trị của bóng tối. Vì thế, nếu chỉ vì những ràng buộc trên, chưa đủ để khẳng định một cuộc chiến đẫm máu, do Trung Quốc khởi xướng, không xảy ra trên Biển Đông. Nhưng lý do sau đây có thể là điều khiến Trung Quốc sẽ còn phải chùn tay: Họ không dám chắc thắng tuyệt đối bằng một trận tổng lực, trong thời gian ngắn, tức là chưa có trong tay kịch bản kết thúc cuộc chiến. Mà điều này thì hoàn toàn có thể xảy ra. Lịch sử của những cuộc nhà Hán chinh phục phươngNam hẳn là điều họ chưa thể quên được. Thêm một lần thất bại nữa, nước Trung Hoa hiện đại có thể sụp đổ, trước hết là sụp đổ tinh thần Trung Hoa mà họ đang tìm mọi cách dung dưỡng. Hậu quả nhãn tiền của nó là sẽ khiến mọi bí mật hư hư thực thực của tiềm lực Trung Hoa – thứ mà Trung Quốc đang sử dụng hiệu quả trong việc chèn ép thiên hạ – bị lộ mặt, từ đó bẽ mặt với cả đồng minh lẫn kẻ thù. Lợi thế răn đe của Trung Quốc với các lân bang khác ngoài Đông Nam Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, đặc biệt là Đài Loan… cũng vì thế mà không còn. Khi đó Trung Quốc mất sạch cả vốn lẫn lãi và có thể lịch sử Trung Hoa buộc phải viết lại từ nhiều trang trong quá khứ.
Vì vậy, như đã nói, vấn đề lớn nhất với Trung Quốc không phải là bắt đầu cuộc chiến như thế nào, mà sẽ kết thúc cuộc chiến ra sao?Các chiến lược gia diều hâu của Trung Quốc chưa thể nghĩ ra kịch bản nào tốt hơn là sau khi khai hoả, ồ ạt áp đảo đối phương bằng lực lượng vượt trội, có thể giành một chút chiến thắng nhưng sau đó sẽ lại phải rút về. Nếu biết trước như vậy mà vẫn lao vào thì chỉ những kẻ mất trí mới làm. Không kết thúc được, nghĩa là toàn bộ sườn phíaNam có giá trị như cửa sinh tử của Trung Quốc sẽ ở trong tình trạng chiến tranh, chưa biết đến bao giờ. Khi đó quyền chủ động cuộc chơi nằm trong tay các nước đối đầu mà nguy hiểm nhất với họ chính là ViệtNam. ViệtNam là dân tộc có khả năng phòng thủ kiên cường và nghệ thuật quân sự chứa nhiều ẩn số vào loại nhất thế giới. Khi buộc phải đánh nhau, khi Biển Đông là chiến trường, khi có sự hỗ trợ ngầm về vũ khí từ các cường quốc vì lợi ích của họ, thì Việt Nam có thể khiến Trung Quốc sống dở chết dở, có khả năng bóp nghẹt, cắt đứt con đường giao thương quan trọng nhất của họ để qua eo biển Malacca. Những gì họ đang làm ở Campuchia là để phòng xa sự cố này cũng sẽ vô ích. Không ai phải nghi ngờ điều này và cũng không cần phải có tới 5000 quả tên lửa diệt hạm, con số trên lý thuyết để dìm toàn bộ lực lượng hải quân của Trung Quốc xuống Biển Đông. Bởi vì đó là bản năng sinh tồn của người Việt hình thành từ hàng ngàn năm, để không thể bị tiêu diệt.
Kết lại: Trung Quốc sẽ khai hoả ngay tức thì ở Biển Đông một khi họ đã có trong tay kịch bản kết thúc chiến tranh. Chúng ta sẽ phải cho người Trung Quốc thấy, không bao giờ họ thực sự có trong tay cái bảo bối ấy và do đó, một điều tưởng phi logic khác lại trở thành thứ logic của định mệnh: Chính người Việt sẽ quyết định có cho phép Trung Quốc làm mưa làm gió ở Biển Đông hay không. Việt Nam là nước nhỏ hơn nên luôn cần hoà bình, sống yên ổn bên cạnh Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần yên bờ cõi không kém, đặc biệt là cửa ngõ phía Nam, nơi họ không thể phớt lờ Việt nếu muốn có sự đảm bảo trên thực tế về an ninh. 
(Còn nữa)
T. D. A.

Nếu có ai làm nhục đảng, làm mất niềm tin vào đảng, thi đó chính là Đại tá, PGS-TS, nhà giáo ” u tối” Trần Đăng Thanh

Minh Diện
            Tôi không có vinh hạnh được nghe buổi lên lớp về Biển Đông của ông đại tá phó giáo sư, tiến sỹ, nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh cho các lãnh đạo đảng ủy khối, lãnh đạo đảng, tuyên giáo, cộng tác chính trị, quản lý sinh viên, đoàn, hội thanh niên các trường đại học cao đảng tại Hà Nội, ngày 16-12-2012, mà chỉ được nghe qua một băng ghi hình của con trai một người đồng đội. Những gì nghe nhìn được, làm  tôi vô cùng thất vọng vì quân đội ta lại có một vị đại tá với những học hàm như vậy, mà hành vi ứng xử thiếu văn hóa, cách nói năng bỗ bã, tùy tiện và nhố nhăng hết chịu nổi.
               Thái độ hách dịch, bề trên, thái độ trịch thượng võ biền của Trần Đăng Thanh, thể hiện khi ông ta chỉ tay xuống dưới nói: “Đồng chí kia cất cái báo đi, cất kính đi. Tôi nói như vậy mà vẫn đọc báo, không nên như vậy !”. Ông là sĩ quan quân đội, đến nói chuyện với các cử tọa có trình độ cả, đâu phải cha người ta, người ta đâu phải là lính của ông?
            Xin nói để ông Thanh biết, mọi diễn giả không có quyền bắt mọi người phải lắng nghe mình nói, dù là Tổng thống. Anh nói hay, nói đúng, người ta chăm chú nghe và vỗ tay. Anh nói dở người ta huýt sáo, thậm chí bỏ về, có khi còn ném cà chua trứng thối.  Một người nổi tiếng hùng biện và đầy quyền lực như Fidel Castro trong một lần nói chuyện ở Cung đại hội đảng cộng sản Cu Ba năm 1981, có người huýt sáo, ông đã ngừng nói, và xin lỗi đám đông thay vì đe nẹt người huýt sáo.
              Sự trịch thượng, tự đề cao mình của đại tá Trần Đăng Thanh còn bộc lộ một cách lộ liễu khi ông khoe khoang : “Đời người có nhiều hạnh phúc, hôm nay là một ngày hạnh phúc,  vì tôi đi giảng, đi nói tới 4 hội nghị Phật giáo Đại cửu viện, và bây giờ nói với đội ngũ trí tuệ nhất của đất nước”.  Và “Tôi rất tự hào vì đội ngũ trí thức của chúng ta có tâm có tầm, như hiệu trường đại học y  luận văn giỏi này, bắn súng giỏi này!”.

            Chỉ là một đại tá ở Học viện chính trị Bộ quốc phòng mà vênh vang hơn cả một lãnh tụ không bằng? Nhưng nhìn nhân tướng học và khẩu khí như ông mà làm lãnh đạo thì nổi máu độc tài là cái chắc! Sự uyên thâm về học vấn, sự mẫn tuệ liệu đã đạt tới đâu mà Trần Đăng Thanh đi giảng cho 4 Đại cửu viện Phật giáo? Không biết ông hiểu được bao nhiêu về Phật pháp, đã bước ra khỏi chốn mê tâm để giác ngộ bổn đạo chưa mà đòi đi giảng đạo cho các bậc đại thừa? Sự huênh hoang ấy,  Khổng Tử đã nói cách đây hàng ngàn năm: “Tiểu nhân trí đoản bất kiến thâm sâu!” mà ông không  hiểu, chưa đạt tới ngưỡng tri  hay sao?
                Cái sự huyên thuyên khoác lác ấy với người chưa thông đạt học vấn, trẻ người non dạ có thể tha thứ, nhưng một kẻ bạc đầu lại mang hàm đại tá sỹ quan chính trị như ông thì khó coi quá. Nhưng đó chưa phải quá tệ, đại tá Trần Đăng Thanh còn tỏ ra rất nông cạn và thiếu logic khi nói về Nga, Iran, Triều Tiên , Trung Quốc…
              Người Nga có câu thành ngữ: “nhe khraso govarit za spinoi!”, có nghĩa là nói sau lưng người khác là không tốt. Khi Trần Đăng Thanh nói xấu nguyên Tổng thống Boris Yeltsin, mà không hề biết rằng, không có ông thì không có Putin. Hơn nữa đánh giá nước Nga kiệt quệ do Boris Yeltsin là hết sức phiến diện. Phải nói rằng, Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Liên xô đã kiệt quệ trước khi Gorbachev  lên làm Tổng bí thư, và Boris Yeltsin phải làm cái gì cần phải làm, để mở đường cho một nước Nga hiện nay. Tôi không biết đại tá Trần Đăng Thanh đã  khi nào đặt chân lên nước Nga xưa và nay chưa, đã hỏi người  dân Nga xem họ có luyến tiếc cái quá khứ xã hội chủ nghĩa không mà ông lại căm thù Boris Yeltsin và luyến tiếc thay cho họ?
                Về Iran thì ông Trần Đăng Thanh tỏ ra là một người không hiểu biết gì về đạo Hồi ở xứ sở này. Giáo chủ S.R.M Khomeini không phải tầm thường như ông Thanh hiểu mà tham vọng lớn hơn nhiều. Người lãnh đạo “cuộc cách mạng vĩ đại thứ ba” trong lịch sử loài người có tham vọng lãnh đạo toàn thế giới Hồi giáo.
                Đại tá Trần Đăng Thanh ba hoa để giấu giếm sự nông cạn, hay cố tình áp đặt tính định hướng chính trị vào bài giảng của mình khiến gượng ép, không trung thực.
                Trước một đám đông được chính bản thân ông xác nhận là đội ngũ trí tuệ nhất đất nước mà ông chỉ phô ra một thứ kiến thức tạp nham xà bần nát, như rắc tấm vãi cám cho gà con như vậy thì quả là rất coi thường đối tượng diễn thuyết. Phải biết mình là gì, nói với ai, nói ở đâu, nói trong bối cảnh nào?
                Với một cách nhìn thiển cận, phi logic, ông Trần Đăng Thanh bảo rắng Triều Tiên là một đất nước mà Việt Nam phải học tập. Ông chứng minh sự tốt đẹp cùa chế độ xã hội chủ nghĩa Triều Tiên bằng việc người dân nước này tuyệt đối tin tường và kính trọng lãnh tụ của họ. Ông lấy ví dụ một vận động viên được Huy chương vàng Olimpic nói: “Tôi giành được Huy chương vì luôn nghĩ tới công ơn chủ tịch Kim Chang-in và lời dạy của Chủ tịch Kim Chang-un?”.
                Thưa ông Thanh ‘cấp bậc cao văn bằng bự’, có thật ông tin lời nói của vận động viên kia, cũng như  nước mắt hàng triệu người Triều Tiên nhỏ xuống khi Kim Chang- -in chết có thực sự xuất phát từ trái tim họ không?
                Ông thừa biết đó là cách nói của một người Triều Tiên, họ phải nói, phải khóc nếu muốn miếng bánh mì ăn và không muốn vào tù. Đó là thứ sản phẩm đặc sệt chất độc tài của Trung Quốc tràn sang, bắt đầu từ thời hồng vệ binh Trung Quốc giơ quyển sách bìa đỏ có mấy chữ: “ Mao chủ xi y lủ”- Trước tác Mao Chủ tịch- và nói có thể biến sắt vụn thành vàng!
               Ông là người biết phân biệt giả chân mà ca ngợi như vậy không sợ thiên hạ cười cho?
              Đại tá Trần Đăng Thanh bảo Triều Tiên nghèo tới mức cán bộ đi nước ngoài phải mượn nhà nước từ cái cà vạt đến bộ áo véc. Đại tá ạ, bản thân người viết bài này và rất nhiều người khác đã từng phải ký giấy mượn một đôi giày hở mõm, một chiếc vali không còn khóa, một chiếc áo veston sờn cổ, nhàu nát của Bộ tài chính trước khi lên máy bay sang Liên Xô học. Đó là sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa chính thống mà bây giờ Triều Tiên còn duy trì, chưa chịu xóa quan liêu bao cấp để đổi mới.
                  Triều Tiên nghèo đói như vậy, nhưng tổ chức lễ quốc tang cho Kim Chang-in tốn kém bao nhiêu triệu đô la ông có biết không, và liên tiếp phóng tên lửa tốn kém thế nào ông cũng không hay à?
                 Tôi cảm thấy thương hại một bộ óc u mê, một tâm hồn què quặt, cái đầu kém nơron thần kinh mà đi cất lời ca ngợi việc Triều Tiên phóng tên lửa: “Họ làm các nước lớn mất ăn mất ngủ, rất lo lắng vì quả tên lửa của họ, cái điều mà chúng ta phải học tập”. Thế là thế nào? Học cái gì? Dân đang đói nghèo, tiền đang thiếu, lạm phát còn nhiều nguy cơ mà đi đổ tiền vào “chạy đua vũ trang” à?
                 Đảng ta, nhân dân ta không bao giờ muốn đe dọa bất kỳ một nước nào, một dân tộc nào bằng vũ lực. Tại sao ông lại bảo phải học Triều Tiên, bắt dân đói khổ, lấy tiền chế tạo tên lừa bắn lên trời cho các nước lớn sợ “ăn không ngon ngủ không yên?”. Tại sao ông có tư tưởng hiếu chiến như vậy? Quân đội ta đâu có thế? Thế mà ông huấn thị rằng “mục tiêu tối thượng là giữ được môi trường hòa bình!?”.  Vậy ông giữ môi trường hòa bình với ai? Làm cho ai mất ăn mất ngủ?  Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”, sao ông lại nói bừa nói ẩu như vậy. Có lẽ ông tiến thân bằng đe dọa bạn bè, chơi trội thiên hạ quen rồi hay sao? Một đại tá quân đội, một người trí thức, nhân danh đảng đi giảng bài, truyền đạt chủ trương chính sách của đảng về chủ quyền biển đảo mà tư tưởng bệnh hoạn như vậy sao? Việc này, tôi chưa hiểu là Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị đã biết hay chưa?
                  Trần Đăng Thanh đã nói trắng ra là cái “môi trường hòa bình” chỉ giành cho Trung quốc, chỉ Trung Quốc mà thôi. Dù ông ta viện dẫn mối quan hệ Việt – Trung  phức tạp thế nào, Việt Nam từng đánh thắng Trung Quốc ra sao từ trước công nguyên đến giờ, cũng chỉ để chứng minh mối quan hệ của đảng cộng sản Việt Nam với đàng cộng sản Trung Quốc là tốt đẹp, và truyền đạt mệnh lệnh “Không được làm mếch lòng Trung Quốc!”.
             Tôi là một người lính, và chắc chắn  từng trải chiến trận hơn ông Thanh, tôi cảm thấy bị sỉ nhục khi nghe ông Thanh nói: “Đối với Trung Quốc, điều không được quên: họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xe áo cho chúng ta. Ta không thể là người vô ơn bội nghĩa!”. Cũng như ông đã làm cho tôi mất công đọc bài diễn thuyết dài dằng dặc, lại mất công viết bài cảnh báo cảnh tỉnh ông. Nhưng dù sao ông cũng giúp cho mọi người thêm một năng lực và ý thức ảnh giác với những cán bộ có bệnh nói sảng, ba xạo; như trong một bài viết mới đây tác giả Bùi Văn Bồng gọi họ là thứ cùng mã vạch, mô-típ “cướp cò mồm”!
             Tôi cũng đã viết bài báo về ân oán đối với Trung Quốc  đăng trên một số trang mạng khẳng định rằng, chính Trung Quốc phải mang ơn Việt Nam chứ Việt Nam không mang ơn Trung Quốc.
                Trung Quốc từng rêu rao Việt Nam vong ân bội nghĩa nên “dạy cho Việt Nam một bải học” bằng cuộc xâm lược 17-2-1979. Bây giờ một ông đại tá Trần Đăng Thanh lại đạp lên xương máu đồng đội mình mà hùa theo kẻ xâm lược ư? Đau quá!
                Ông Trần Đăng Thanh  bảo rằng người Mỹ chưa bao giờ tốt thật sự với chúng ta và “tội ác của Mỹ trời không dung đất không tha”? Vậy thử hỏi Trung Quốc đã bao giờ tốt thật với chúng ta chưa, và tội ác của Trung Quốc từ thời bà Trưng bà Triệu đến giờ, từ biên giới phía Bắc, phía Nam đến Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông, trời có dung đất có tha không?
                Là một người làm chính trị mà ăn nói mách qué, hồ đồ như vậy thỉ nên đốt sách đi!
                Ông Trần Đăng Thanh ra lệnh: “Trước mắt chúng ta phải tin tưởng vào sự lãnh đạo  của  đảng chúng ta?”. Với ngôn từ và diễn đạt tiếng Việt, “phải” thế này, “phải ” thế kia là một mệnh lệnh, là sự ép buộc.
              Niềm tin chỉ được xác lập một khi lẽ phải được tôn trọng, trở thành chân lý rọi sáng vào tâm hồn con người. Không ai có thể  bắt tôi phải tin một người như ông, cũng như một bộ phận không nhỏ đã thoái hòa biến chất trong đảng.
              Ông Trần Đăng Thanh nói dai nói dài, cuối cùng lòi cái đuôi cáo ra: “Tôi đi giảng cho tất cả các đối tượng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa hiện nay có rất nhiều nội dung, một nội dung rất cụ thể, rất thiết thực với chúng ta, đó là bảo vệ cái sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu” (?!). Thế là ông khuyên mọi người hãy “ngậm miệng ăn tiền!”. Người dân yêu nước Việt mà chỉ thực dụng nhỏ hẹp thế thôi ư?
            Ông đại tá Thanh nói sai cả đường lối đối ngoại và phanh phui cả những bí mật an ninh-quốc phòng, phê phán những người nói thẳng nói thật với Đảng, Nhà nước, mạt sát những người yêu nước. Thế mà lại ra lệnh cho mọi người phải tin vào sự lãnh đạo của đảng, của những người như ông ta, với cái tâm và cái tầm như vậy đấy. Tôi xin mượn ý của Giáo sư Ngô Bảo Châu để kết thúc bài báo này: Nếu có  ai làm nhục đảng, làm mất niềm tin vào đảng, thỉ đó chính là Đại tá, PGS,TS, nhà giáo “u tối” Trần Đăng Thanh. Cha mẹ đặt cái tên cho ông xem ra cũng rất văn hóa và ý nghĩa, với sự kỳ vọng cho tương lai, danh vọng của ông: Đăng Thanh-lẽ ra tiếng nói phải thanh cao, như chuông khánh, ý tứ phải sáng như đèn. Nhưng, qua cuộc diễn thuyết rất “sảng” này, làm thiên hạ mất “khoái” mà sinh bực bội, coi thường ông hết cỡ. Thế nên, Đăng Thanh mà lại bị chửi tục do sự u tối phát ra đầu lưỡi từ một nhân cách và nguồn tư duy quá lùn! Đáng tiếc thay!
     M D
Theo blog BVB, đầu đề của QC     
Nguồn: Quechoa

Mừng năm mới 2013