Bài đăng phổ biến

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

QUỐC HỘI CÓ THỰC SỰ LÀ CỦA DÂN KHÔNG

QUỐC HỘI CÓ THỰC SỰ LÀ ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN? Thư ngỏ của TS VŨ DUY PHÚ Kính gửi - Quốc hội - Đồng kinh gửi Trung ương đảng, - Bộ Chính trị và Chính phủ I. Đôi lời thật ngắn về cái “gốc”. Từ xưa đến nay, mọi vĩ nhân về tư tưởng đều đã biết đứng trên vai của những vĩ nhân sống ở những thời đại trước mình. Các Mác đã biết tổng kết, chắt lọc những tư duy vĩ đại của “CNXH không tưởng” của thế kỷ 17, tư tưởng Cách mạng vô sản Pháp thế kỷ 18 , và triết học Đức thế kỷ 19 . . . ..để đưa ra học thuyết Mác. Ấy vậy mà, trên cơ sở diễn biến nhanh của thực tiễn (là chân lý) chỉ ngay trong thời đại của ông, Mác cũng tự cho là trí tuệ - tư duy của mình chưa được hoàn chỉnh, cần phải thay đổi, nên vẫn cố hoàn thiện từng bước, thậm chí tự bác bỏ nhiều phần của cái cũ (thời QTCS I) , đề xuất tư tưởng mới (dẫn tới QTCS II- XHDC ). Nhưng Lênin thì khác và thực chất là cuối cùng đã thất bại, vì ông hầu như chỉ bám chặt lấy “Tư tưởng vĩ đại” giai đoạn đầu còn nông nổi của chỉ một mình chàng thanh niên Các Mác (“Chế độ xưa ta mau đập tan tành”,mặc dù có lúc Lênin đã ngộ ra, đã làm “Chính sách kinh tế mới”, nhưng sửa sai không kịp (vì Stalin còn lâu mới hiểu nổi đường lối, chiến lược mới của Lênin khi đó) ! Mao Trạch Đông thì lại càng tự phụ, thiếu am hiểu và tham khảo rộng rãi nhiều vĩ nhân thế giới. Riêng Hồ Chí Minh của Việt Nam, nói một cách ngắn gọn, Hồ Chí Minh đã hoàn toàn biết đứng trên vai của rất nhiều những Nhà tư tưởng khổng lồ: Đức Phật Thích ca, Thánh Giê su, Khổng tử, Các Mác, Lênin, Tôn Dật tiên, Găng đi . . .và nhiều tinh hoa khác của nhân loại, chính vì vậy Người đã chiến thắng được mọi trở ngại để đưa đất nước đến độc lập, tự do (cho cả nước, như một tổng thể). Vì vậy, nếu chúng ta tự nhận xứng đáng là học trò của Hồ Chí Minh, thì chúng ta không thể “bám lấy” chỉ riêng có một Người khổng lồ nào đó, hay một Chủ nghĩa nào đó, trường hợp của ta hiện nay, là Chủ nghĩa hỗn hợp Mác – Lê ! Nếu giả dụ, CN Mác – Lê mà là đúng với mọi thời đại, thì cùng lắm cũng chỉ như các Định luật của Niwtơn vĩ đại hay Einstein thiên tài: Người đời chẳng cần nói rằng tôi đang vận dụng đinh luật của các Ông Niwton và Einstein, khi thiết kế các công trình, dù chúng vĩ đại đến mấy, trên Trái đất này. Nhưng nếu chúng ta dương cao ngọn cờ tư tưỏng đường lối học thuyết Hồ Chí Minh, thì cũng tức là chúng ta cùng một lúc đã dương cao tư tửong của tất cả những Nhà hiền triết khổng lồ của Nhân loại mà Hồ Chí Minh đã chắt lọc những tinh tuý của họ và tinh hoa nhân loại truyền đạt lại cho chúng ta hôm nay. Đó là tư tưởng “Lấy Dân làm gốc”, là “tình yêu nhân loại bao la như đại dương”, là Đại đoàn kết, là Dân chủ, không Độc quyền, Người không câu nệ sự khác biệt, hơn nữa, chính từ khác biệt, đối lập . . . sẽ nẩy ra sáng tạo, đổi mới, và đột phá ! Với học thuyết Hồ Chí Minh, Việt Nam không thể rơi vào “Vết ngứa 70 năm” mà Larry Diamond (*) đã tổng kết. Vinh dự thay dân tộc Việt Nam đã có học thuyết của chính mình – Học thuyết Hồ Chí Minh - để mà . . .thoát mọi khó khăn và vươn tới ! -- (*) Larry Diamond đã nghiên cứu tổng kết đi đến kết luận rằng: Các chế độ độc tài đảng trị (dù “XHCN” hay không XHCN”) cũng đều chỉ tồn tại được tối đa là 70 năm, mà Liên Xô là điển hình. II. Việc dễ, có thể làm ngay Đảng ta đã quen với tâm niệm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân. Đảng chỉ lãnh đạo bằng chủ trương đường lối đúng đắn chung, chăm nom công tác cán bộ, kiểm tra và gương mẫu thực hiện. Còn mọi thắng lợi trước đây đều là do toàn dân góp công sức, trí tuệ và xương máu vào mà thành tựu. Nhưng trong thực tế từ khi hoà bình lập lại, mọi việc lãnh đạo của Đảng diễn ra trên toàn quốc đã mở rộng một cách sai lầm ra tất cả trong sự ôm đồm, độc quyền toàn diện của Đảng, mà trên thực tế là dưới sự lãnh đạo toàn diện chỉ của các cấp uỷ Đảng, thậm chí là quyền quyết định cuối cùng chỉ của đ/c bí thư đảng, từ trung ương đến mọi cấp uỷ đảng ở từng cơ sở. Như vậy thực chất là trái với quy luật tự nhiên “Đảng với Dân như cá sống trong nước” và đường lối “Lấy dân làm gốc” của Đảng. (Hãy thử điểm nhanh qua những sự việc vẫn diễn ra hàng ngày có thực ở mọi nơi từ xưa đến nay làm thí dụ : Tại xã X, Chủ tịch xã xin ý kiến chỉ đạo và quyết định của Bí thư đảng uỷ xã: Mấy xuất đất chân đê, đảng uỷ đã quyết định thu hồi,bán đi lấy tiền xây lại hội trường và nhà văn hoá. Doanh nghiệp xây dựng thì thúc đẩy, nhưng nông dân đang phản đối. Vậy xin anh cho ý kiến quyết định ? Tại huyện Y, giám đốc phòng giáo dục huyện xin ý kiến quyết định cuối cùng của Bí thư huyện uỷ: Có ý kiến đề nghị huyện hãy cho xây lại nhà ở đã quá dột nát của giáo viên và nhà nội chú của học sinh, trong khi bên thương nghiệp lại đòi cho sửa chữa chợ huyện trước (và đang “bám riết” Bí thư ! ) Tại tỉnh Z, Phó chủ tịch UB ND tỉnh (được chủ tịch UB phân công) xin ý kiến quyết định cuối cùng của bí thư đảng bộ tỉnh về việc có dứt khoát điều Đ/C bí thư huyện uỷ huyện T lên làm giám đốc sở thông tin và truyền thông hay không (Đồng chí này được biết là có vấn đề tham nhũng đã bị lộ tại huyện ấy, nên phải điều đi) Tại xí nghiệp đóng tầu nọ, câu chuyên rắc rối trong việc mua một chiếc tầu cũ về tân trang lại, chưa biết nên khai báo với tài chính theo giá trị mới , hay giá trị mua tầu cũ. Nếu khai theo giá trị mới, như đảng uỷ đã bàn, có thể sau này bên kiểm tra người ta phát hiện ra thì rất phiền. Vậy theo chỉ thị của Giám đốc: tốt nhất là xin ý kiến quyết định cuối cùng của đ/c chí Bí thư xí nghiệp cho “ăn chắc”. Sau này có chuyện gì thì là “đã có ý kiến lãnh đạo của Bí thư . . .” Doanh nghiệp D vừa thầu một vùng đất để làm dự án mới. Nếu khai khống từ 100 tỷ lên 500 tỷ, theo quy định thì có thể được vay NH đến 60 %, số tiền dôi ra đó lên tới gần 300 tỷ. Phần chênh lệch này đem gửi ngân hàng với lãi suất 16% để . . .”cùng sử dụng” trong DN và “có đi có lại” với NH, thì rất có lợi. Nhưng việc lớn như vậy, “bố ai mà dám quyết”, tốt nhất là xin ý kiến đảng uỷ, hay để cho đỡ bị dò rỉ thông tin lộ ra, chỉ nên xin quyết định của Bí thư thôi ! Tại trường N, các thày cô cũng thấy dậy thêm lấy tiền như hiện nay là việc làm quá trớn. Mấy vị lớn tuổi luôn luôn đem thí dụ về việc bồi dưỡng vài học sinh yếu kém ở trong lớp (nhưng không đòi tiền thù lao của cha mẹ học sinh) trước đây ra làm dẫn chứng, rằng việc bòi dưỡng học sinh yếu kém vẫn nằm trong phạm trù nhiệm vụ bắt buộc của giáo viên. Nhưng khi xin ý kiến bí thư đảng bộ của trường, thì đ/c bí thư vẫn quyết là cứ làm như cũ cái đã, vì chính đ/c này cũng rất tích cực dậy thêm để “cải thiện” ! Trong dịp bầu cử HĐNN tại đơn vị nọ, mọi người hỏi nhau nên bầu ai, bỏ ai. Một công dân tuyên bố ráo hoảnh: Đảng đã chọn và quyết cả rồi, việc gì cần phải suy nghĩ cho mệt. Tôi cứ xoá luôn 2 vị cuối cùng. Muốn trúng ai cũng được ! Vậy là, có HĐNN cũng được, mà không có cũng được. Nhưng có thì “đẹp mặt”, nhưng mà lại tốn tiền thuế của nhân dân, ý kiến, ý có lắm chuyện, lại phải “ăn chia” cho bên HĐNN, nên tốt nhất là bỏ quách đi còn hơn ! Bộ Kế hoạch và đầu tư của ta, trước kia thì làm kế hoạch chi tiết cho đến tận sản phẩm, đến từng huyện và doanh nghiệp, làm thay nhân dân (!). Từ khi đi vào kinh tế thị trường, thì quên cả CN Mác – Lê, chỉ nhăm nhăm chạy theo “đầu tư” (chạy theo “mầu”), để cho nền sản xuất chung cả nuớc lộn xộn, nhiều thứ lớn (nguyên liệu, cảng biển, sân gôn, Vinashine, Vinaline, vốn – lãi ngân hàng, đập thuỷ điện, thu hồi đất . . . mất cân đối lớn và sai nguyên tắc nghiêm trọng). Đó là những sai lầm lớn vì ỉ lại vào quyết định của lãnh đạo đảng. Nếu để cho “kinh tế thị trường chính hiệu” và nhân dân tự chủ, được tự điều tiết thực sự thì lại khác. Sau khi đi thăm Nam Hàn về, Đ/C Tổng Bí thư Đảng thời đó, học tập nước bạn, cứ nhất quyết quyết định nhập các doanh nghiệp quốc doanh lại lập thành các “tập đoàn DN nhà nước” để tạo “những quả đấm thép”. Cuối cùng bên Chính phủ cũng phải tuân lệnh. Đ/C TBT ấy, không hiểu rằng, các Tập đoàn quả đấm thép của Nam Hàn là của tư nhân, đi lên từ các Doanh nghiệp làm ăn giỏi, lãnh đạo các DN ấy đầy đủ trí thức chuyên môn và dầy dạn kinh nghiệm thương trường, vì vậy chính phủ Nam Hàn đã lựa chọn để có chính sách ưu đãi và cho vay lãi thấp chút ít về tài chính khi cần thiết. Cái chính là các Tập đoàn này họ không được độc quyền và họ không dại gì lại “tham nhũng” của chính họ. Trong các Hội nghị TƯ Đảng, dường như Đ/C Tổng Bí thư luôn ngăn chặn ngay từ đầu là: Kiên định CN Mác – Lê là đúng đắn, là việc không phải bàn nữa. Trong khi tại cái nôi sinh ra CM Mác – Lê, tại nước Nga Xô viết và khối các nước Đông Âu cũ, và cả bên Trung Quốc anh em, nhân dân đã từ bỏ hoàn toàn CN Mác – Lê vì nó đã hoàn toàn hết vai trò lịch sử rồi. Thực ra, CNXH chính hiệu (Dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh) thì các nước văn minh tiến bộ trên thế giới lâu nay họ đều lẳng lặng đặt mục tiêu đó để hướng tới, có điều họ không đại ngôn nói ra, nhưng về biện pháp thực hiện, họ không câu nệ tuân theo riêng một chủ nghĩa nào, một kinh thánh nào. Cứ cái gì có lợi cho nhân dân, cho đất nước họ thì họ cương quyết làm. Vân vân, và vân vân). Thực ra, theo quy định chung, không phải việc gì mọi người bên chính quyền và đoàn thể cũng phải xin ý kiến quyết định của cấp uỷ hoặc bí thư đảng. Nhưng do cái thể chế “Độc đảng lãnh đạo toàn diện” (đảng chủ) đã kéo dài mấy chục năm, nên trên toàn lãnh thổ đã rất quen cái luật và lệ đảng quyết định ấy rồi. Vì theo cái thể chế đó, thì bên chính quyền và đoàn thể tha hồ ỉ lại, dựa dẫm, làm ẩu, thậm chí làm liều, tiêu cực, tham nhũng, tuỳ tiện lấy thêm biên chế, v. v. .sau đó khi cần thì đổ vấy cho bên đảng “đã chỉ đạo và quyết định”, vì vậy không ban kiểm tra, kiểm soát nào dám làm gì cả. Còn bên đảng do có kinh thánh CN Mác – Lê che trở, tự coi mình đã lãnh đạo giành được độc lập, thì cũng tự giành lấy quyền lãnh đạo xây dưng và phát triển đất nước, măt khác, chẳng có chỗ nảo trong Hiến pháp và luật ghi trách nhiệm cụ thê của đảng cả, vậy thì tội gì mà không nắm lấy quyền quyết định tất cả, để các cấp chính quyền và đoàn thể phải vị nể và . . .buộc phải cung phụng để được che chắn và còn phối hợp “làm ăn lâu dài” ? Cái gốc độc quyền quyết định đó – tuy trong chiến đấu vũ trang (cùng nhiều yếu tố khác) đã đem lại thắng lợi to lớn – thì trong xây dựng hoà bình và hội nhập quốc tế đã làm nẩy sinh ra mọi sự tiêu cực, tệ nạn, suy thoái xã hội, kìm hãm sự phát triển của đất nước, mà chúng ta (đảng và chính quyền) – vì quyền lợi của cả hai bên gắn chặt với nhau - nên đang “bàn mãi” giải pháp khắc phục mà chưa dũng cảm chỉ ra nguyên nhân thực chất và biện pháp có hiệu quả tận gốc. Cần nhớ sự thực sau đây khi bàn luận: Cạnh tranh đa nguyên thì tưởng chừng lộn xộn, nhưng thực tế nếu luật pháp gốc đã đúng đắn, thì xã hội vẫn ổn định, chỉ có các thế lực chính trị muốn lên làm lãnh đạo là phải cạnh tranh thẳng thắn công khai minh bạch với nhau để nhân dân có thể tự do bình đẳng chọn lựa đúng hơn người lãnh đạo. Còn độc quyền một đảng như của nước ta, thì cứ tưởng rằng như thế là ổn định, song trên thực tế đó là chế độ còn dở hơn cả chế độ phong kiến, là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự suy thoái đạo đức mọi mặt toàn xã hội, chính nó đến lượt mình làm vô hiệu hoá hoặc làm méo mó tất cả những chủ trương đúng đắn của TƯ Đảng, của Bộ Chính trị, những sáng kiến, những đề xuất cải cách của nhân dân, của chính phủ và sự giúp đỡ chân tình của các nước tiên tiến, nó đang âm ỉ gây ra sự bất bình trong nhân dân như hiện nay, và nguy cơ bùng phát khi có “giọt nước tràn ly” như đã xẩy ra ở nhiều nước theo thể chế này. Càng cố gắng “chỉ đạo” bàn kế lập mưu dẹp bỏ và dấu diếm sự bất bình của nhân dân, thì sự căm giận của nhân dân ngày càng tăng lên và sự bùng phát nổi loạn của xã hội ngày càng tới gần. Nói cách khác rõ thêm, lâu nay tại mỗi một đơn vị hành chính hay kinh tế từ nhỏ đến lớn trong cả nước đã có một ông vua (tức là các cấp uỷ đảng và bí thư đảng tại chỗ), ông vua này có quyền trên cả luật pháp (vì có quyền tại chỗ lãnh đạo độc quyền toàn diện và duy nhất, có quyền nhân danh Đảng CS quyết định mọi chủ trương cụ thể và số mệnh chính trị của mọi người, mà cấp trên thì quan liêu, bị bịt mắt ). Vì vậy, ông vua này – vì cũng là con người, như mọi người- do “độc quyền lãnh đạo” nên có thể quyết định thiên về bảo vệ quyền lợi của cái tổ chức “vua” ấy của mình, bằng cách dung túng, bao che cho các cấp dưới để họ có thể an toàn mà vi phạm pháp luật, có thể làm bậy, trong đó điển hình nhất là tham nhũng tiêu cực, lựa chọn nhân sự thân quen, và được tự phán xét tội lỗi của chính mình và chân tay của minh (phê và tự phê, chỉ đạo xét xử), bằng cách đó, các cấp dưới sẽ trả ơn, sẽ “nuôi” trở lại các cấp uỷ đảng bằng rất nhiều cách thức khác nhau. Tham nhũng, tiêu cực càng dễ trót lọt, hiệu quả tham nhũng tiêu cực càng tăng, thì càng củng cố cái vòng quan hệ “tung – hứng” có đi, có lại gắn bó này, tức là càng củng cố “lòng tin” (của giới chức) vào chế độ độc đảng toàn trị, ở dạng “các cấp uỷ đảng trị” hiện nay. Nói khác đi cái quyền lãnh đạo toàn diện và quyền được quyết định của các cấp uỷ đảng cơ sở chính là nguyên nhân trực tiếp của mọi loại sai trái đã xẩy ra và sẽ tiếp tục xẩy ra tại mỗi đơn vị hành chính kinh tế xã hội của đất nước, cho đến toàn quốc (mà Vinashine, Vinaline, Đoàn Văn Vươn, Thái bình, và rất nhiều những sai trái khác. . . là những ví dụ rõ nhất). Còn Ban Nội chính vẫn sẽ khó khăn, thậm chí bất lực. Vì vậy, cách khắc phục tận gốc và trực tiếp đầu tiên trong tầm tay của TƯ và QH hiện nay là truất quyền quyết định của mọi cấp uỷ đảng cơ sở, trả quyền đó ngay lập tức về cho nhân dân, mà người có thẩm quyền duy nhất là pháp luật, là Quốc hội và HĐND các cấp. Mọi cấp uỷ đảng cơ sở chỉ có nhiệm vụ duy nhất là lãnh đạo nhân dân và tất cả các tổ chức chính quyền và đoàn thể tại cơ sở mình nghiêm chỉnh thực hiện đường lối của đảng là “lấy dân làm gốc” , “Tất cả cái gì có lợi cho dân, cho nước thì làm, cái gì có hại cho dân, cho nước thì chống”, lãnh đạo và kiểm tra nhân dân và các tổ chức chính quyền tuân thủ nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật mà nhân dân đã phúc quyết. Bước đầu, hãy bỏ cái quyền lãnh đạo toàn diện và duy nhất của các cấp uỷ Đảng ở mọi cơ sở là việc làm đầu tiên để bước đầu trả lại trực tiếp quyền làm chủ của Nhân dân, coi Luật pháp, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là người đại diện. Cải cách dứt khoát và dần từng bước là một trong những cách tốt nhất, dễ quyết định nhất để xây dựng và bảo vệ Đảng, Chống lại những tư duy đổi mới tương tự, chính là vô tình đẩy Đảng đến ngõ cụt, càng làm Đảng mau chóng mất vị trí lãnh đạo cách mạng và làm mất ổn định, dẫn đến xung đột toàn xã hội. V.D.P --------------- Được đăng bởi Bùi Văn Bồng vào lúc 22:13 Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên Facebook Nhãn: Chính trị, Trao đổi

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

CHUYỆN NAY AI CHÉP

Những chuyện 'giường chiếu' hãi hùng của vua chúa Việt - Chỉ nói đến vua chúa ngày xưa. Chuyện vua chúa ngày nay để ngày sau chép. Ân ái xong rồi giết, bắt mỹ nữ khỏa thân chèo thuyền, bỏ gái vào bao tải để thác loạn, “một đêm sáu bà”, “sưu tập gái đẹp" 5 châu... là những chuyện rùng mình về thói đam mê sắc dục của các vua chúa trong lịch sử Việt Nam. Lê Long Đĩnh bị trĩ giai đoạn 4 vì hoang dâm? Lê Long Đĩnh (986 - 1009) là vị vua cuối cùng của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mô tả là vị vua hoang dâm vô độ, đến mức bị mắc bệnh trĩ, không thể ngồi được, phải nằm để thiết triều, nên bị gán cho biệt danh "Ngọa Triều Hoàng đế". Theo y học hiện đại, bệnh trĩ ở giai đoạn mà bệnh nhân phải nằm là ở giai đoạn 4, là giai đoạn rất nặng chỉ có thể chữa bằng phương pháp phẫu thuật, điều không thể thực hiện ở Việt Nam thời phong kiến. Phải chăng, đó là lý do khiến ông vua này qua đời rất sớm, ở tuổi 23? Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, chuyện Lê Long Đĩnh tàn ác, hoang dâm vô độ đã được người thời sau thổi phồng để bôi nhọ vị vua này trong sử sách. Lê Uy Mục “yêu xong rồi giết” Lê Uy Mục (1488 - 1509) là vị vua thứ 8 của nhà Hậu Lê. Ngay từ khi lên ngôi, ông đã nổi tiếng ham rượu chè, mỹ nữ và thích giết người. Theo sử sách, tuy mới 20 tuổi, Lê Uy Mục đã có một thú vui tình dục rất man rợ. Đêm nào, ông cũng gọi các phi tần, cung nhân vào uống rượu say sưa, hành lạc vô độ. Khi say, ông giết luôn cả cung nhân vừa được mình ôm ấp. Ai cũng kinh sợ Lê Uy Mục, nhưng vì uy quyền tối thượng và sự tàn nhẫn của vua, nên không dám lên tiếng. Do chỉ mê hưởng lạc, Lê Uy Mục đã bỏ bê triều chính, mặc cho bọn hoạn quan và bên họ ngoại khuynh đảo, lộng hành… Hậu quả là ông vua này đã bị một số người trong tôn thất và triều thần nổi loạn, bắt và bức tử. Lê Tương Dực bắt mỹ nữ khỏa thân chèo thuyền Lê Tương Dực (1495 – 1516) là vị vua thứ 9 của nhà Hậu Lê. Ông lên ngôi sau khi giết bỏ Lê Uy Mục – vị vua được người đời mệnh danh là “Vua Quỷ”. Theo sử sách, Lê Tương Dực vốn là người có tư chất thông minh. Lúc mới lên ngôi ông cũng ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt, biết nghe lời phải trái, được coi là có công trạng với đất nước. Nhưng càng về sau, Lê Tương Dực càng chơi bời xa xỉ trụy lạc, bỏ bê việc nước. Tương truyền, vua đã cho đóng chiến thuyền bắt con gái khỏa thân chèo chơi ở hồ Tây. Tháng 5/1514, nghe lời của Hiệu úy Hữu Vĩnh, Lê Tương Dực giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm. Vì hoang dâm như thế, cho nên sứ nhà Minh sang trông thấy vua, bảo rằng Tương Dực có tướng lợn. Nên mọi người ngoài và dân chúng gọi ông là “Vua Lợn”. Mạc Mậu Hợp tan nát cơ đồ vì dâm dục Mạc Mậu Hợp (1562 – 1592) là vị vua thứ 5 của nhà Mạc thời Nam Bắc triều trong lịch sử Việt Nam. Sử cũ chép rằng, Mậu Hợp là người sống xa hoa, kiêu ngạo, hay nghe xiểm nịnh, thường ít lắng nghe lời bàn luận, khuyên can của các bậc lương thần. Đặc biệt, ông là người rất hoang dâm hiếu sắc. Chính điều này là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự suy vong của cơ nghiệp nhà Mạc. Để thỏa mãn dục vọng, Mạc Mậu Hợp đã không ngần ngại “mưu giết bề tôi, đoạt mỹ nhân”. Cụ thể, do thích vợ của viên trấn thủ Nam đạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê, ông đã lên kế hoạch giết danh tướng này để cướp vợ. Kế hoạch bị đổ bể khiến Bùi Văn Khuê đem quân quay sang quy phục vua Lê và chúa Trịnh Tùng. Theo gương Bùi Văn Khuê, hơn 10 tướng nhà Mạc cũng bỏ Mạc Hậu Hợp để chạy sang phe Lê – Trịnh. Điều này khiến quân Mạc suy yếu nghiêm trọng và bị quân Trịnh Tùng đánh tan sác sau đó không lâu. Mạc Mậu Hợp phải bỏ kinh thành trốn chạy nhưng không thoát, cuối cùng đã bị Trịnh Tùng treo sống 3 ngày rồi chém đầu tại bãi cát Bồ Đề, sau đó đem đóng đinh vào 2 con mắt, bêu ra ngoài chợ 5 ngày. Trịnh Giang bỏ gái vào bao tải để thác loạn Trịnh Giang (1729-1740) là vị chúa Trịnh thứ bảy thời Lê Trung Hưng. Theo các sử gia, nếu các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Cáng đều là những nhà cai trị tài giỏi thì việc lên nắm quyền hành của Trịnh Giang lại là khởi đầu cho thời đại suy tàn của họ Trịnh. Tương truyền, Trịnh Giang có tật mê đàn bà từ thuở nhỏ. Vì vậy, không có gì lạ khi lên cầm quyền, ông sớm nổi tiếng về thói ăn chơi dâm loạn không chừng mực. Càng về sau, Trịnh Giang càng có nhiều biểu hiện kì dị trong sinh hoạt tình dục. Một số hoạn quan hàng ngày phải lựa ra một người đẹp trong số cung nữ, hoặc bắt cóc dân nữ sống quanh khu vực cho tắm rửa sạch sẽ, đến tối bỏ vào một cái bao tải lớn, vác bỏ vào phòng của chúa Trịnh Giang, rồi mặc cho chúa “hành sự”. Không chỉ dừng lại ở đó, Trịnh Giang là kẻ dâm loạn còn từng tư thông với vợ lẽ của cha mình là chúa Trịnh Cương. Sau này, Trịnh Giang bị mắc bệnh "dâm cơ địa" mà sinh ra yếu bóng vía, sợ ánh sáng mặt trời nên phải đào hầm sống dưới đất. Minh Mạng “một đêm sáu bà” Vua Minh Mạng (1791-1825) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Nguyễn. Không chỉ là một vị vua có trí tuệ, ông còn nổi tiếng bởi sức khỏe chăn gối hơn người. Tương truyền nhà vua hoạt động chăn gối về đêm đều đặn. Mỗi đêm, vua chấm cho thái giám gọi 5 bà vào hầu, mỗi canh vua “chiều” một bà. Có khi chỉ trong một đêm vua làm cho 3 bà có thai. Dù “lao lực” cả đêm như vậy, nhưng hàng ngày vua vẫn thiết triều, cưỡi ngựa mà không có biểu hiện mệt mỏi. Sách sử chép rằng, để vua có sức khỏe trị vì đất nước và "chiều" các bà vợ thì ngự y cung đình đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế những bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận rất hiệu dụng, gọi là Minh Mạng thang. Tuy nhiên, các nhà y học hiện đại cho rằng, vua Minh Mạng là người có năng lực tình dục bẩm sinh, những toa thuốc vua dùng chỉ mang tính trợ lực, chứ không phải đóng vai trò quyết định. Với “năng lực siêu phàm” của mình, vua Minh Mạng đã trở thành vị vua có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn, với 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa. Bảo Đại nghiện đàn bà, “sưu tầm” mỹ nữ 5 châu 4 biển Vua Bảo Đại (1913 - 1997), vị vua cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam nổi tiếng là vị vua ăn chơi và đa tình khét tiếng. Trong sách “Bảo Đại hay những ngày cuối cùng của Vương quốc An Nam”, tác giả Pháp Daniel Grandclément cho biết sở thích hàng đầu của vua Bảo Đại là đuổi theo những người đàn bà đẹp. Vua từng thẳng thắn bộc lộ sự ham muốn sắc dục của mình như sau: "Luôn có nhu cầu đối với đàn bà, một thứ nhu cầu thường xuyên không thể dập tắt được như đồ ăn thức uống. Từ khi đến tuổi lớn, đêm nào cũng phải có một người đàn bà nằm bên, mỗi đêm một người". Không chỉ thử ăn nằm với những người đẹp Việt Nam, Bảo Đại còn “nếm” cả phụ nữ Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Châu Phi... Loạn luân – chuyện không hiếm của vua chúa Việt Lịch sử Việt Nam đã nhiều lần ghi nhận hiện tượng loạn luân trong cung vua, phủ chúa của nhiều triều đại khác nhau. Đó là các trường hợp chúa Trịnh Giang tư thông với vợ lẽ của cha mình là chúa Trịnh Cương, vua Mạc Kính Chỉ (?-1593) tòm tem với vợ của vua cha khi còn làm quan phụ chính, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765) - vị chúa Nguyễn thứ 8 trong lịch sử loạn luân với một bà công nữ… Đặc biệt, loạn luân là một hiện tượng phổ biến, được thừa nhận trong thời nhà Trần như một cách để bảo vệ ngai vàng không rơi vào tay ngoại tộc. Theo thống kê, nhà Trần có khoảng 35 cuộc hôn nhân loạn luân, tiêu biểu là cuộc hôn nhân giữa vua Trần Anh Tông với hoàng hậu Thuận Thánh mang tính chất chắt chú chắt bác lấy nhau. Theo KIẾN THỨC

CUỘC CM NÚP BÓNG CÁC QUÂN NHÂN

« 2087. Gót chân Asin của Trung Quốc ở Đông Nam Á Tin Chủ Nhật, 03-11-2013 » 2088. AI CẬP: CUỘC CÁCH MẠNG NÚP BÓNG CÁC QUÂN NHÂN Posted by basamnews on November 3rd, 2013 THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt) Thứ Năm, ngày 30/10/2013 (Báo Le Monde dipiomatiqne – số tháng 8/2013) Một cuộc đảo chính hay là cuộc nổi dậy của dân chúng? Một giai đoạn mới của cuộc cách mạng chăng? Làm thế nào để gọi tên phong trào chống Mohamed Morsi hàng loạt sau đó là việc phê truẩt vị tổng thống dân cử đầu tiên được bầu một cách dân chủ của Ai Cập ngày 30/6 vừa qua? Cho dù Anh em Hồi giáo có một trách nhiệm nặng nề trong thất bại của họ thì cái bóng của các quân nhân và chế độ cũ vẫn ẩn hiện đằng sau những người biểu tình. Tất nhiên, người ta có thể ngạc nhiên khi thấy một nguồn tin quân sự chứng thực rằng 14 triệu người Ai Cập (con số đôi khi ước tính tới 33 triệu) đã xuống đường ngày 30/6/2013 và quân đội đã cung cấp cho các phương tiện thông tin đại chúng những bức ảnh được chụp từ các máy bay để xác nhận lời nói của họ. Tất nhiên, người ta có thể tự hỏi các quan chức của Bộ Nội vụ hoan nghênh những cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử Ai Cập từ khi nào vậy. Tất nhiên, người ta có thể đôi chút hoài nghi về con số 15, thậm chí 22 triệu chữ ký mà phong trào Tamarod (“Nổi dậy”) nhận được đòi Tổng thống Mohamed Morsi từ chức, và buồn cười khi một nhà “triết học Ai Cập” cam đoan rằng những chữ ký đó “đã được Tòa án Hiến pháp Tối cao đếm lại”. Dù sao, trong ngày 30/6 vừa qua, Ai Cập đã sống trong sự huy động mãnh liệt nhất kể từ tháng 1 và tháng 2 năm 2011. Đông đảo người dân Ai Cập đã muốn nhắc lại những đòi hỏi của họ về phẩm giá, quyền tự do và sự công bằng xã hội. Họ muốn khẳng định sự bác bỏ của mình đối với chính sách do ông Morsi tiến hành và với tổ chức mà ông này đại diện là Anh em Hồi giáo. Được thành lập năm 1928, tổ chức này đã trải qua một thế kỷ 20 đầy sóng gió. Lịch sử của nó được đánh dấu bằng những sự đàn áp, các vụ bắt bớ và tra tấn. Tuy nhiên, mỗi khi có cơ hội, tổ chức này lại giành được những thắng lợi bầu cử quan trọng, dù đó là bầu cử các cơ quan lập pháp hay các hội nghề nghiệp (kỹ sư, bác sĩ, luật sư,v.v. .) Trong suốt hàng thập kỷ, khẩu hiệu của họ vẫn là “Đạo Hồi là giải pháp”, mạng lưới đoàn kết và sự sả thân của các chiến binh của họ đã tạo cho họ một ảnh hưởng đáng kể, và đảm bảo cho họ một đa số trong các cuộc bầu cử quốc hội tự do (cuối năm 2011 — đầu năm 2012), với sự tham gia chưa từng có của 30 triệu người Ai Cập. Ngoài nòng cốt là những người ủng hộ họ, nhiều cử tri đã muốn đem lại một cơ may cho tổ chức do Hassan Al-Banna sáng lập. “Người ta đã thử tất cả. Người ta đã thử lập quốc vương, không ổn. Rồi người ta đã thử xây dựng chủ nghĩa xã hội với (Gamal Abdel) Nasser, và ngay cả vào lúc cao điểm của chủ nghĩa xã hội, vẫn còn có những ông lớn nắm quân đội và các cơ quan tình báo. Sau đó, người ta đã thử đứng trung lập, rồi chủ nghĩa tư bản… Và cũng không ổn. Có lẽ giờ đây người ta thử nghiệm với Anh em Hồi giáo xem có được không. Dù sao đi nữa ngươi ta cung chẳng có gì để mất. ’’ Trong một câu chuyện phiếm về nhưng nỗi gian truân của mình để vượt qua những tăc nghẽn giao thông ở Cairo trước cuộc cách mạng, nhà văn Khaled Al-Khamissi đã nhắc đến lời bình luận này của một người lái xe taxi. Vào mùa Xuân 2013, nhà báo thích những câu chuyện tâm sự của nhũng người lái xe này đã nghe một bình luận khác: Tổ chức Anh em Hồi giáo, “cũng không ổn”. Điều mà sự đàn áp không thể làm được, thì hai năm rưỡi sinh hoạt công cộng và một cuộc tranh luận đa chiều, cởi mở hơn và thường là những cuộc bút chiến, đã thực hiện thành công: bị phơi bầy dưới ánh sáng va trước sự phản biện: các thành viên Anh em Hồi giáo đã phải rút lui một cách không thể cưỡng lại được. Bị cô lập, Tổng thống Morsi đã tự hại mình Từ nhiều tháng nay, các cuộc bầu cử đã xác nhận sự rút lui này. Trong vòng một của cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 5/2012, ông Morsi chỉ giành được một phần tư số phiếu; và chỉ đạt được đa số ở vòng hai nhờ vào số phiếu của những người tẩy chay đối thủ của ông, tướng Ahmed Chafik, ứng cử viên chính thức của chế độ cũ. Trong giai đoạn vài tháng được chiếu cố, tổng thống đã có thể nhẹ nhàng loại bỏ được Hội đồng tối cao các lực lượng vũ trang (SCAFX chịu trách nhiệm về sự chuyên tiếp tai hại sau khi Hosni Mubarak sụp đổ và về các cuộc đàn áp đầy bạo lực trong đó có cuộc đàn áp hồi tháng 10/2011 chống một cuộc biêu tình hòa bình thể hiện tình đoàn kết với người Copt. Ngay sau đó ông và tổ chức của ông đã mất uy tín, và điểm số của họ đã sụt giảm trong các cuộc bầu cử của sinh viên cũng như của các nghiệp đoàn nhà báo và dược sĩ. Có nhiều lời giải thích về thất bại này và tất cả đều không thuộc phạm vi trách nhiệm của Anh em hồi giáo, về cơ bản, tổ chức này đã không thể thích ứng với ván bài chính trị đa nguyên mới, thoát ra khỏi thứ văn hóa chui lủi của họ, đế trở thành một đảng chính trị và thành lập các liên minh. Tất nhiên, họ đã lập ra Đảng Tự do và Công lý nhưng đảng này vân hoàn toàn nằm dưới sự chỉ đạo của Anh em Hồi giáo. Thuật lại các cuộc đàm phán của mình với Đảng Tự do và Công lý, một lãnh đạo của Đảng Xã hội Dân chủ cho biết cuộc họp thường xuyên phải dừng lại để những người thương lượng phía bên kia có thể xin ý kiến của Anh em Hồi giáo. Từ nhừng năm 1990, buộc phải chấp nhận các khái niệm về chế độ dân chủ và quyền tối cao của nhân dân, tổ chức Anh em Hồi giáo, dưới sức ép của sự đàn áp tiếp theo sau những thắng lợi của họ trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2005, lại một lần nữa thu mình lại. Trong đại hội của họ, năm 2009, cánh bảo thủ nhất do doanh nhân Khairat AL-Shater lãnh đạo, đã củng cố được vị trí của họ và loại bỏ những phần tử có tư tưởng cởi mở nhất như Abdel Moneim Aboul Fotouh. Chắc chắn không phải sự cuồng tín hay quyết tâm áp đặt luật Hồi giáo của họ đã khiến cho những người Ai Cập thất vọng: thành tích của họ trong lĩnh vực này thật ít ỏi, vả lại đó là điều mà đảng Salafi Al-Nour có thế lực vẫn chê trách họ. Thực tế, sự bất lực của họ trong việc thực hiện những cải cách đã khiến nhiều người bất ngờ. Là một tổ chức có tư tưởng bảo thủ, Anh em Hồi giáo đã tôn trọng trật tự được thiết lập và đã không biết thắt nối những liên minh lẽ ra đã cho phép thay đổi bộ máy Nhà nước – quân đội, cảnh sát hay tư pháp, vẫn trung thành với chế độ cũ. Đối với phong trào xã hội và các nghiệp đoàn, thái độ của họ đã làm người ta nhớ đến những năm dưới thời Mubarak. Merip, một tạp chí Mỹ ghi nhận: “Tại Nghị viện, Anh em Hồi giáo đã bác bỏ một dự luật về lao động lẽ ra có thể bảo đảm quyền thành lập các nghiệp đoàn độc lập thông qua các cuộc bầu cử tự do, Họ đã đề nghị ‘kiểm soát’ các cuộc đình công và đứng về phía giới chủ trong những cuộc bãi công tự phát, vẫn tồn tại sau khi Mubarak bị gạt bỏ. Tới đầu mùa hè, Ai Cập đã bị đưa trở lại danh sách đen của Tổ chức lao động quốc tế vì đã vi phạm các công ước mà họ đã ký. Chính phủ Morsi đã phớt lờ những phán quyết của tòa án buộc họ từ bỏ việc tư hữu hóa các doanh nghiệp nhà nước bị bán tống bán tháo.” Bị cô lập, Tổng thống Morsi đã tự hại mình, vào tháng 11/2012, với một tuyên bố hiến pháp trao cho ông toàn quyền. Không thể thực hiện tuyên bố hiển pháp đó, ông đã huy động lực lượng dân quân tự vệ của mình và tìm cách bố trí người của mình, bất chấp những lời tố cáo ông “Anh em Hồi giáo hóa” Nhà nước – lời cáo buộc này không có cơ sở cho lắm vì ông không quản lý được các thể chế. Nhưng sẽ là ngây thơ nếu nghĩ rằng cuộc nổi dậy là kết quả của riêng sự bác bỏ này mà thôi. Các Anh em Hồi giáo đã phải đối mặt với một chiến dịch gây bất ôn định do chế độ cũ dàn dựng: giải tán Quốc hội được bầu, cảnh sát từ chối đảm bảo trật tự công cộng và bảo vệ các trụ sở của họ, các tòa án xử trắng án các quan chức dưới thời Mubarak. Tháng 5/2013, Tổ chức Các phóng viên không biên giới (RSF) đã đưa Chính phủ Ai Cập vào danh sách các chính phủ “ăn thịt” quyền tự do báo chí (một từ ngữ chưa từng được dùng để chống chế độ Mubarak). Phe đối lập, được tập hợp lại trong Mặt trận cứu nguy dân tộc (NSF), đã tham gia chiến dịch này và đã không do dự bênh vực chế độ cũ. Như nhà viết tiểu luận Esam Al-Amin đã nhận thấy vào hôm trước ngày 30/6, “trong cuộc chiến mang tính hệ tư tưởng giữa các cựu đối tác cách mạng, các fouloul (những người ủng hộ chế độ cũ) đã có khả năng tự sáng tạo lại và trở thành các nhân tố chủ chốt sát cánh với các nhóm thế tục chống lại Anh em Hồi giáo và các phần tử Hồi giáo. Mới đây, ông Mohamed El-Baradei đã tuyên bố sẵn sàng tiếp nhận vào đảng của mình tất cả các đảng viên Dân tộc dân chủ của Mubarak, còn ông Hamdeen Sabbahi (đứng thứ ba trong cuộc bầu cử tổng thống và tuyên bố theo chủ nghĩa Nasser) khẳng định rằng việc chiến đấu chống lại các foidoul chỉ là thứ yếu, Anh em Hồi giáo và các phần tử Hồi giáo liên minh với họ mới là kẻ thù chính”. Sự quyến rũ của ông Sabbahi đối với quân đội dường như đã khiến ông có sự trở mặt này, và điều này càng bất ngờ hơn nữa vì trong cuộc bầu cử lập pháp, đảng của ông đã liên minh với Anh em Hôi giáo. Ngoài hình ảnh những thanh niên bột phát lật đổ một “nhà độc tài Hồi giáo” còn có một bức tranh mờ tối hơn. Mahmoud Badr, một trong những người sáng lập phong trào Tamarod, có thể khoe khoang — một sự ngây thơ lố bịch? — chuyên viên Tổng tư lệnh quân đội, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với ông đã chấp nhận lời cảnh cáo của ông như sau: “Tôi nói cho ông biết, ông là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, nhưng nhân dân Ai Cập là tổng tư lệnh của ông và họ ra lệnh cho ông phải đứng về phía họ và yêu cầu bầu cử trước thời hạn.” Một nghìn lẻ một dấu hiệu chứng tỏ rằng phong trào này đã được quân đội chuẩn bị từ lâu với những sự đảm bảo của Saudi Arabia, cơ quan an ninh của Nhà nước và các fouloul. Nhà tỷ phú Naguib Saouiris, gắn bó với chế độ cũ, thừa nhận đã ngấm ngầm tài trợ cho các chiến binh Tamarod, còn bà Tahani El-Gebali, nguyên Phó Chủ tịch Tòa án Hiến pháp tối cao, giải thích việc bà đã giúp họ xây dựng một chiến lược để làm cho quân đội phải can thiệp như thế nào. vẫn bà El-Gebali, một trụ cột của chế độ Mubarak, đã tuyên bó rằng những người có bằng cấp cần phải có nhiều phiếu bầu hơn những người khác trong các cuộc bầu cử. Và, như có phép thần, sau khi Morsi sụp đổ, tình trạng thiếu thốn, nhất là về xăng dầu, đã chấm dứt; các viên cảnh sát cũng lại ra đường. Nhưng người ta có thể nghi ngờ việc họ sẽ bảo vệ phụ nữ: ngày 3/7 ngày lật đổ ông Morsi, khoảng một trăm vụ quấy rối tình dục và cưỡng hiếp đã xẩy ra trên Quảng trường Tahrir. Và chẳng phải tướng Abdel Fatah Al-Sisi, người hùng mới của chế độ, đă cổ vũ quân đội tiến hành hồi tháng 1 và 2/2011 các vụ “kiểm tra trinh tiết” đối vơi những phu nữ biểu tình đó sao? Việc lật đổ ông Morsi không những không làm cho các phương tiện thông tin đại chúng ở Ai Cập trở nên đa chiều hơn mà ngược lại: một nửa tá các kênh truyền hình đã bị cấm, các nhà báo bị bắt giữ, báo chí nước ngoài cũng bị lên án mạnh mẽ như báo chí chính thức dưới thời Mubarak Việc duy trì bộ Thông tin đã không báo hiệu điều gì tốt lành. Trong khi đó, các phương tiện truyền thông Nhà nước từ chối đưa tin về các cuộc biểu tình – tập hợp hàng trăm nghìn người do Anh em Hồi giáo tổ chức- hầu như tất cả các nhà báo chấp nhận đưa tin theo giọng điệu chính thức mang tính Sôvanh. Những mối đe dọa nhằm vào không chỉ Anh em Hồi giáo mà là tất cả nhũng ai chỉ trích đường lối chính thức. Kể từ nay, mọi quyền lực đều nằm trong tay ông Adly Mansour thành viên của Tòa án Hiến pháp tối cao mà ông đã làm chủ tịch trong 48 giờ. Con người này, có sự nghiệp gắn liền với chế độ cũ và với Saudi Arabia, nơi ông đã làm việe trong hơn 10 năm, đã đưa ra một “lộ trình” một tuyên bố hiến pháp trao cho ông toàn quyền hành pháp và lập pháp và dự kiến các cuộc bầu cử trong 6 tháng. Một số điểm gây tranh cãi trong Hiên pháp cũ như vai trò tư vấn của trường đại học Hồi giáo Al-Azhar trong việc soạn thảo các đạo luật, việc hạn chế chủ nghĩa đa nguyên nghiệp đoàn, v.v… đã bị hủy bỏ. Nhưng quân đội vẫn không bị đặt dưới sự kiểm soát dân sự. Trong lĩnh vực tôn giáo, điều kỳ cục là văn kiện mới đã được thông qua đánh dấu một sự thụt lùi, bởi vì những “nguyên tắc của luật Hôi giáo” vẫn là “nguồn gốc chủ yếu của pháp chế” nhưng lần này được xác định rõ là phải phù hợp với truyền thống Sunni. Điều này đã khiên NSF bối rối, họ đã lên án nó rồi lại rút lại. về phần mình, Tamarod tiến hành một chiến dịch để cấm Anh em Hồi giáo và các đảng Salafi (vốn chiếm tới một phần ba dân số)! Chính phủ mới đã xác nhận vai trò chủ chốt của tướng Al-Sisi, người đã được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng, đồng thời vẫn là Bộ trưởng Quôc phòng. Những người tán thành chủ nghĩa tự do kinh tế và nhiều gương mặt của chế độ cũ chi phối trong lĩnh vực kinh tế. Việc một nhà lãnh đạo của một nghiệp đoàn độc lập lên nắm Bộ Lao động được coi là một tin tốt lành duy nhất. Lâu nay, dư luận đã tự hỏi liệu có một “tấm vé khứ hồi” hay không một khi Anh em Hồi giáo trúng cử. Câu hỏi giờ đây là nếu tổng thống được bâu bị lật đô thì Ai Cập có một lần nữa biết đến các cuộc bầu cử đa nguyên không. Thậm chí một số nhà lãnh đạo, trong đó có ông El- Baradei, tuy khẳng định sự cần thiết phải tính đến Anh em Hồi giáo song vân im lặng trước những hành động đàn áp ở khắp nơi do cơ quan an ninh Nhà nước và quân đội tiến hành bất hợp pháp chống những người đấu tranh thuộc Anh em Hồi giáo mà các phương tiện thông tin đại chúng gọi là “những tên khủng bố”. Giải thích một cách khác như thế nào đây việc mở một cuộc điều tra về cuộc vượt ngục của ông Morsi và nhiều nhà lãnh đạo Anh em Hồi giáo trong cuộc nổi dậy hồi tháng 1 và tháng 2/2011, thoát khỏi nhà tù Ouadi Al-Natroun? Từ nhiều tháng nay, báo chí được cơ quan tình báo (moukhabarat) cung cấp thông tin, đã công bố rất nhiều “tình tiết mới” về vụ rắc rối này, thậm chí khẳng định rằng Anh em Hồi giáo có lẽ đã được Hamas, Hezbollah và Al-Qaeda giúp đỡ – điều này nuôi dưỡng một chiến dịch bạo lực chống Palestine và chủ nghĩa Sôvanh. Và khi nào thì các chiến binh bị kết tội đòi lật đổ Mubarak? Phải chăng người ta đang đẩy tổ chức Anh em Hồi giáo tới chỗ bạo lực — thậm chí khiêu khích họ — để cho phép thiết lập tình trạng khẩn cấp nhân danh “cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố”? Tình trạng bất ổn ở Sinai, không bắt đầu với ông Morsi, liệu có được sử dụng làm cái cớ? Dù thế nào đi nữa cũng sẽ không có trật tự chính trị nếu không tập hợp tất cả các lực lượng kể cả các phần tử Hồi giáo và tổ chức Anh em Hồi giáo, những người sẽ phải rút ra những bài học từ thất bại của họ để chuyển sang hoạt động bí mật./.

SỬA HIẾN PHÁP

Về Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (*) Minh Nguyễn hienphapCuối năm 2012, Bộ Chánh trị chỉ đạo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992. Chung quanh việc tổ chức thực hiện chủ trương này có nhiều chuyện để nói! Ngày 28 tháng 01 năm 2013 Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh mời tôi dự cuộc họp đóng góp ý kiến sửa đổi Hiến pháp. Tôi đọc lướt một xấp tài liệu họ gởi đến, phân vân không biết có nên tham dự không. Cuối cùng, thấy mình không thể né tránh, tôi viết thư gởi Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh đề ngày 27 tháng 01 năm 2013, đến cơ quan Mặt trận tỉnh giao thư mà không tham dự cuộc họp. Tôi trích dẫn nội dung chính như sau: “Thưa các đồng chí! Tôi đọc Chỉ thị số 22-CT/TW của Bộ Chánh trị và Nghị quyết số 38/2012/QH13 của Quốc hội các đồng chí gởi đến. Chỉ thị của Bộ Chánh trị đoạn mở đầu viết: “Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là một đợt sinh hoạt chánh trị quan trọng, rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chánh trị nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân…”. Thế nhưng, ở mục 3 Bộ Chánh trị chỉ thị Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương: “phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan kịp thời đấu tranh ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước ta”. Nghị quyết của Quốc hội cũng có hai đoạn nội dung tương tự. Tôi không hài lòng cách đặt vấn đề như trên, có cảm giác các nhà lãnh đạo cấp cao nước ta không tin người dân, như bác sĩ “nhìn đâu cũng thấy vi trùng”, một mặt muốn người dân tham gia ý kiến đóng góp rộng rãi “phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết”, mặt khác lại răn đe “đấu tranh ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ”! Là cán bộ của Đảng, đã trở về cuộc sống đời thường như mọi người dân, tôi thật sự không biết phải đóng góp ý kiến như thế nào, nếu nói thẳng, nói thật những điều tâm huyết trong lòng, nhưng không phù hợp – thậm chí khác biệt 180 độ với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 các đồng chí gởi đến, thì đó có phải là hành vi "lợi dụng dân chủ" không? Làm sao phân biệt được đâu là tiếng nói trung thực và đâu là hành vi "lợi dụng dân chủ"? Như tôi, cả cuộc đời gắn bó với Đảng mà còn e dè bày tỏ với Đảng những suy nghĩ thật trong lòng mình, vì không khéo sẽ bị quy chụp “lợi dụng dân chủ” chống Đảng thì sao! Nếu là người dân bình thường họ còn e dè, ngần ngại đến đâu? Những cụm từ tương tự như vậy tôi thường thấy xuất hiện trong các văn kiện của Đảng và chánh quyền, có phải để răn đe, chụp mũ và trừng phạt những ai có tiếng nói khác với Đảng và chánh quyền? Như vậy, sao có thể gọi là “phát huy quyền làm chủ” được? Tôi nghĩ, nước ta có luật pháp, “mọi công dân sống theo Hiến pháp và pháp luật”, bất cứ ai có hành động phạm pháp, gây phương hại lợi ích quốc gia, dân tộc sẽ bị tòa án xử lý “đúng người, đúng tội”, cần gì “đánh đòn gió” để mang tiếng chế độ ta thiếu dân chủ?! Tôi không muốn nói gì thêm nữa, nhưng đây là công việc hệ trọng của đất nước, với tư cách công dân và từng là thành viên ban lãnh đạo tỉnh nhà, tôi không thể thoái thác trách nhiệm của mình. Vậy, xin bày tỏ ý kiến của mình như sau: Tôi nhận thấy bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 so sánh với Hiến pháp năm 1992, tinh thần và nội dung căn bản không khác, chỉ sửa đổi “ngọn ngành”, “râu ria” không đáp ứng được yêu cầu tình hình mới và ý nguyện người dân. Tôi đề nghị bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp nên viết lại, sau khi tổ chức “trưng cầu dân ý” một cách nghiêm chỉnh, thu thập ý kiến rộng rãi mọi công dân Việt Nam trong nước và đồng bào ở nước ngoài. Trên cơ sở đó xây dựng bảng Hiến pháp sửa đổi hợp lòng dân, hợp xu thế thời đại và phải dành thời gian cần thiết để hoàn thành việc này, không có gì phải làm gấp gáp, vội vã. Tôi có đọc bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992” trên mạng internet của 72 vị cán bộ lão thành, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ tên tuổi của đất nước và được hơn 6.500 người dân các giới trong và ngoài nước ký tên hưởng ứng (tính đến đầu tháng 3 năm 2013). Tôi rất tán thành bản kiến nghị này nên cũng đã ký tên hưởng ứng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Phú Thọ được truyền hình toàn quốc hôm 25/2/2013, ông lên án các ý kiến kiến nghị bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực hiện thể chế chánh trị đa nguyên, phi chánh trị hóa quân đội… Ông nói: “Các đồng chí phải lãnh đạo việc góp ý kiến sửa đổi dự thảo Hiến pháp. Cái này quan trọng lắm đấy. Vừa rồi đã có các luồng ý kiến có thể quy vào được là “suy thoái” tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa! Xem ai có tư tưởng muốn bỏ điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không, muốn đa nguyên đa đảng không, muốn tam quyền phân lập không, muốn phi chính trị hóa quân đội không. Người ta đang có những quan điểm đấy, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Như thế là “suy thoái” chứ gì nữa? Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể thì đó là cái gì? Cho nên, các đồng chí phải quan tâm xử lý những cái này.” Phát biểu của ông Trọng bị một số cán bộ lão thành, nhân sĩ, trí thức, nhà báo… lên tiếng không đồng tình ngay sau đó. Đáng chú ý là nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, phóng viên báo Gia đình và Xã hội viết bài trên blog cá nhân phản bác những quan điểm của ông Trọng, anh cho là không phù hợp, không đại diện ý muốn của bản thân anh và người dân… Ngày hôm sau anh Kiên bị sa thải và còn bị đe dọa truy tố. Tôi khâm phục lòng dũng cãm của anh Kiên, tin rằng trong cuộc đấu tranh này anh không đơn độc! Tôi rất bất bình hành động “ma giáo” – xin lỗi, buộc lòng phải dùng từ này – của các nhà lãnh đạo “Đảng của mình” nói một đàng làm một nẻo! Tôi có đọc bài viết so sánh ông Nguyễn Phú Trọng giống Mao Trạch Đông giữa những năm 1950, muốn củng cố vị thế chánh trị độc tôn của y, phát động chiến dịch “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, khuyến khích mọi người nói ra nhiều quan điểm khác nhau về các vấn đề của Trung Quốc lúc đó. Họ Mao khôn khéo nắm bắt được tất cả những người có quan điểm khác biệt, ít lâu sau phát động chiến dịch “Diệt cỏ dại”, nhằm tiêu diệt hết đối thủ chánh trị, bảo đảm vị thế độc tôn của y. Hơn nửa thế kỷ sau, Đảng Cộng sản Việt Nam phát động “lấy ý kiến góp ý sửa đổi Hiến pháp”, đông đảo đồng bào trong nước và kiều bào nước ngoài đã hăm hở nói ra những điều bức xúc, hệ trọng của đất nước. Sau khi thấy “trăm nhà đua tiếng”, ngày 25/2/2013 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bắt đầu “diệt cỏ dại”!”. M. N. (*) Tên một tiết nhỏ trong tập Hồi ký của tôi đang viết. Tác gỉ gửi trực tiếp cho BVN.

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

THANH TRA VÀ A DUA

EVN, THANH TRA VÀ …”A DUA” Published on November 1, 2013 · 1 Comment EVN-DIEN5 SỰ THẬT CỦA VIỆC GHI NHẦM SỐ ĐIỆN VÀ HÀNH VI LẤP LIẾM CỦA EVN EVN VÀ NHỮNG CÚ LỪA…TRUYỀN THÔNG NGOẠN MỤC Thất thoát hàng trăm tỷ nhưng lãnh đạo ngành điện nói mới chỉ khoảng 5 phần nghìn và có thể chấp nhận được?! Dư nợ của EVN lớn nhất khối tổng công ty nhà nước EVN lỗ lớn vì đầu tư ngoài ngành: tính chi phí xây biệt thự, sân tennis vào…giá thành bán điện Chuyện dài về ung nhọt EVN Lâu lắm rồi mới lại có việc kết luận thanh tra được sơ lược công bố trước khi có quyết định chính thức. Mặc dù, Ông Phó Tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) Ngô Văn Khánh cho là bình thường nhưng công luận, báo chí thì biết tỏng nguyên cớ vì đâu. Sự bất đồng ý kiến sâu sắc giữa một bộ phận là những người trực tiếp thanh tra tại EVN với Trưởng đoàn thanh tra (TĐTT); giữa TĐTT với lãnh đạo TTCP – Người có quyền ký quyết định ban hành kết luận thanh tra (KLTT) mới là “kịch hay” còn ở phía trước…Nói là kịch hay vì không hiểu bằng con đường nào mà cách đây khá lâu văn bản na ná KLTT của TTCP đã được gửi đến các nhà báo và mức độ nghiêm trọng thì lớn gấp nhiều lần những gì vừa được he hé. Không những thế, cánh nhà báo còn được rỉ tai thêm, văn bản đó vẫn mới chỉ là 1/3 sự thật. Nói là kịch hay vì đằng sau đó là sự tung hứng, sự tranh giành và chuyền bóng cho nhau hết sức ngoạn mục của những người có bổn phận phải hoàn thành KLTT. Nói là kịch hay còn bởi người viết tưởng tượng tựa đề “EVN, thanh tra và…”a dua”" nếu được chuyển ngữ theo cách nửa tây, nửa ta của nghệ sĩ hài tầm cỡ …Hiệp gà thì cũng có thể giúp những người trả tiền điện gượng gạo nở nụ cười méo mó chốc lát trước khi những đồng tiền lương thiện của mình vô cớ vẫy cánh bay đi… Ngo Van Khanh Phó Tổng Thanh tra Chính Phủ – Ông Ngô Văn Khánh Nói là bình thường nhưng thật sự là rất không bình thường vì thời hạn thanh tra chỉ trên dưới 3 tháng nhưng bóng đã được chuyền, đã được giữ, đã được ngâm trong bóng tối thêm gần 1 năm mà chưa có KLTT chính thức. Tất nhiên, điều đó phản ánh sự thận trọng nhưng thận trọng vì mục đích gì thì lại là câu chuyện đáng bàn. Cuối năm 2012, một phó Tổng TTCP khác, Ông Nguyễn Văn Sản đã hoàn thành và gửi dự thảo kết luận thanh tra xin ý kiến Thủ tướng. Không thể nói Ông Nguyễn Văn Sản và các cộng sự thuộc đoàn thanh tra và các Vụ trưởng của TTCP đã không ý thức được trách nhiệm của mình trước pháp luật, cũng như chưa nghiêm cẩn khi hoàn thành bản dự thảo KLTT. Bản dự thảo đó có rất nhiều vấn đề kèm theo khoản tiền sai phạm của EVN lên đến 6.500 tỷ. Nên nhớ, lần tăng giá điện 5% mới nhất, EVN cũng chỉ thu về 3.500 tỷ thôi nhé. Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý bản dự thảo này đồng thời yêu cầu TTCP làm việc kỹ với các bộ ngành Tài chính, Công thương và các đơn vị liên quan để đánh giá chính xác, khách quan sai phạm và kiến nghị xử lý phù hợp. Người viết thật sự không tin và cũng không dám hiểu khác chỉ đạo của Thủ tướng rằng, Thủ tướng đã đồng ý những sai phạm đó, chỉ yêu cầu TTCP làm việc thêm với các Bộ Ngành để đánh giá chính xác khách quan và hình thức xử lý sai phạm thôi. Thủ tướng không chỉ đạo chưa ban hành và Thủ tướng cũng không cho phép xem xét lại bất cứ sai phạm nào. Capture.1 Ảnh chụp báo Thanh Niên về việc TTCP chưa kết luận các sai phạm tại EVN Thế nhưng, sau gần 12 tháng (gấp gần 4 lần thời gian thanh tra), một Ông Phó Tổng TTCP khác, Ông Ngô Văn Khánh cũng tuyên bố hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật, ký bản kết luận khác báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, nhiều sai phạm và khoản tiền 6.500 tỷ đồng đã bị “bốc hơi”. Công luận băn khoăn, cán bộ trong đoàn thanh tra kịch liệt phản đối thì Ông Khánh đã đăng đàn và nói với báo tuổi trẻ (Tuổi trẻ 10/10/2013) thế này: “Sau khi có dự thảo, Thủ tướng có chỉ đạo đồng ý với dự thảo kết luận, yêu cầu TTCP làm việc kỹ với các bộ ngành tài chính, công thương và các đơn vị liên quan để đánh giá chính xác, khách quan sai phạm và kiến nghị xử lý phù hợp. Tức là Thủ tướng đồng ý trên tinh thần nhưng yêu cầu phải làm việc kỹ với các bộ ngành chứ không phải để ban hành. Đại loại ý của Ông Khánh là phải làm việc thêm với các Bộ Ngành, nghe nhiều phía giải trình, cẩn thận hơn Ông còn chuyển cho Vụ giám sát, thẩm định sau thanh tra vào cuộc v..v…và v..v… Rất rất cẩn thận và mới ra được bản kết luận này. Còn việc cán bộ trong đoàn thanh tra phản đối việc sửa đổi dự thảo, Ông Khánh nói: “Chuyện đó là chuyện nội bộ. Nhưng về nguyên tắc cán bộ cấp vụ, đoàn thanh tra là giúp việc cho lãnh đạo TTCP. Còn ý kiến khác nhau là rất bình thường. Cuộc thanh tra nào cũng có chuyện ý kiến còn khác nhau do nhận thức, do năng lực, do trình độ và do hiểu biết. Còn kết luận là trách nhiệm của tổng thanh tra. Trưởng đoàn thanh tra theo quy định có nghĩa vụ báo cáo đầy đủ, trung thực, có nghĩa vụ giải trình. Tôi chịu trách nhiệm trước pháp luật và chịu trách nhiệm trước tổng thanh tra về kết luận tôi ký. Thật ra số tiền mấy nghìn tỉ không có chuyện mất mát đi đâu. Cho đến nay chúng tôi vẫn khẳng định không có cơ sở nói mất mát, tham nhũng mà bản chất nó là đúng hay sai so với quy định. Cái nội dung mà tôi bỏ đi, tôi có đầy đủ cơ sở để nói việc đó.” Capture.2 Hãy xem lời Ông Khánh nói và việc Ông làm có phải là vẽ đường cho hươu chạy và a dua với sai phạm tại EVN không nhé. Trước hết, là việc mua ô tô gấp 2,5 lần quy định của Chủ tịch và Tổng Giám đốc EVN. Việc quy định tiêu chuẩn mua xe là hết sức cần thiết, là một trong những biện pháp chống nạn lãng phí của các Ông CHỦ ĐẠO, ngồi trên đống tiền của dân, có thể vung tay quá trán mà hầu như không bị kiểm soát hoặc kiểm soát chiếu lệ. Đây rõ ràng là sai phạm lớn, trực tiếp và không hề nhân văn. Đất nước đang khó khăn, hàng vạn DN phá sản, đời sống người dân đang điêu đứng, trẻ em, người dân miền núi đang trong cảnh cực kỳ khốn khó, đi bộ, chân trần trên những nẻo đường cheo leo núi đá, cơm không có, ăn toàn ngô khoai sắn. Chính EVN cũng đang là con nợ khủng nhất mọi thời đại của Việt Nam, không kể ODA, trái phiếu do chính phủ bảo lãnh thì nợ ngân hàng đã là xấp xỉ 120.000 tỷ đồng. Làm ăn cũng đã phải giỏi giang gì đâu, vài cột điện đổ do bão ở miền Trung mà gần tháng mới khôi phục được…Ấy vậy mà 2 ông con trời giám rút 5 tỷ đồng mua xe cho mình vượt 3 tỷ đồng. Đây là sự lãng phí ghê gớm, rõ ràng là hành vi cố ý làm trái và hoàn toàn có thể khởi tố vụ án, khởi tố bị can được. Thế mà TTCP lại đang có ý thuận theo đề xuất của EVN để EVN hạch toán số tiền vượt 3 tỷ đồng vào lợi nhuận sau thuế. Lợi nhuận sau thuế là của DN; nhưng của DN như EVN cũng tức là của nhân dân, của nhà nước và của CBCNV EVN chứ đâu phải là cái túi để ai làm sai cũng có thể thò tay vào mà “hạch toán”. Như vậy có phải là phạt cho tồn tại không ? Có phải là xử lý nội bộ, hợp thức hoá sai trái không ? Như vậy có phải vô hiệu hoá tất cả nỗ lực của Đảng, Chính phủ và Quốc hội trong phòng chống lãng phí không ? Các vị Đại biểu Quốc hội, các vị lãnh đạo Quốc hội lâu nay cứ ca thán rằng lãng phí nguy hại không thua gì tham nhũng, thậm chí còn nguy hiểm hơn chỉ tiếc là không có bằng chứng để xử lý. Đây, theo các vị đã phải là bằng chứng chưa ? Nếu không xử lý vụ này thì các vị có cho rằng quy định hạn mức mua xe để phòng chống quốc nạn lãng phí cũng chỉ là trò hề mị dân không? Theo ngu ý của người viết, phải xử lý hình sự, đồng thời giao lại xe này cho 2 vị, yêu cầu 2 vị trả lại EVN tiền đã bỏ ra để mua xe và phần lãi suất tương ứng với số tiền vượt 3 tỷ kể từ lúc mua xe đến nay. Đó cũng mới chỉ là thiệt hại bé nhất mà 2 vị đã gây ra cho EVN theo quy định của Nhà nước. Đáng tiếc là TTCP mới chỉ phát hiện được 2 xe tại Tổng hành dinh EVN và vài ba xe tại Tổng Công ty điện lực miền Nam. Còn thông tin mà báo chí có được phải hơn 200 xe, tức là nếu tính nhẩm cũng vượt chi (chi sai chế độ) khoảng ít nhất 500 tỷ đồng. Một DNNN mà như vậy, hèn gì mà Chính phủ không chạy đôn chạy đáo xin nâng mức trần bội chi ?. Lại bàn tiếp về sân tennis, bể bơi và biệt thự. Người viết có cơ sở để tuyệt đối tin rằng chúng được hạch toán thẳng vào giá điện. Không bao giờ có chuyện một hạng mục đầu tư trong toàn bộ công trình được tách ra để dùng phúc lợi đầu tư. TTCP hơn ai hết hiểu rõ dự án đã được thanh quyết toán và đã được tính khấu hao cũng tức là đã vào tiền điện của dân. Làm gì có chuyện TTCP không nắm chắc chuyện đó. Thế mà Ông Phó tổng TTCP vẫn cứ ỡm ờ, câu giờ tìm cách để để EVN giải trình. Phải chăng TTCP đang định hành xử theo lối “Trời mưa to coi như trời mưa nhỏ và trời mưa nhỏ coi như trời không mưa?”. Đến lượt EVN, sự ngây ngô đã đến mức thảm hại, hoặc sự dối trá, lần khân, thách thức dư luận đã đến mức tột đỉnh, khi Ông Chủ tịch cứ như không. Trả lời báo chí tối 8/10/2013, Ông cho rằng “Những nội dung trong đó (trong KLTT) nếu là người trong ngành cũng không thấy sai phạm lớn. Tuy nhiên có thể có những ý cần nói thêm để người dân hiểu”. Rồi Ông còn nói thêm: “Tôi nghĩ kết luận thanh tra không có vấn đề gì. Nhưng do kết luận không thể dài quá nên có những điểm ngắn gọn diễn đạt người trong ngành có thể hiểu, nhưng người dân bình thường có thể chưa.” Thế nào thì mới hiểu được ngành điện nhỉ ? Sai phạm rành rành ra đấy mà còn nói vòng vo, lấp liếm và dối trá rằng không có gì, rằng chúng tôi không hạch toán vào giá thành điện…Nguy hiểm hơn, cách nói của Ông Chủ tịch EVN có thể dấn đến thảm hoạ truyền thông giống hệt như thảm hoạ truyền thông của Thuỷ điện sông tranh 2 ngày nào. Tức là sẽ đến lúc mọi điều EVN nói ra đều bị người dân nghi ngờ là dối trá. Một điểm khác gây rúng động không không kém, ấy là khi Ông Phó TTCP Ngô Văn Khánh thật thà thốt ra: “Thật ra số tiền mấy nghìn tỉ không có chuyện mất mát đi đâu. Cho đến nay chúng tôi vẫn khẳng định không có cơ sở nói mất mát, tham nhũng mà bản chất nó là đúng hay sai so với quy định. Cái nội dung mà tôi bỏ đi, tôi có đầy đủ cơ sở để nói việc đó.” Chao ôi, mấy nghìn tỷ chưa rõ đúng sai mà đã vội vàng hoá kiếp cho nó. Chưa rõ đúng qui định hay không mà đã giám nói không mất mát tham nhũng. Chắc chỉ TTCP và EVN cùng với nhóm nào đấy mới to gan và tài tình đến vậy. Ông Khánh còn giải thích để báo chí hiểu hàm ý việc loại 6.500 tỷ do sai phạm trong kết luận cuối năm 2012 và kết luận mới đây do Ông ký là chuyện bình thường, theo kiểu nhận thức là một quá trình…Về mặt hình thức thì có thể cho là như vậy. Nhưng khi nghe Ông Khánh giải thích tiếp rằng “Toà án hôm nay xét xử, án rất rõ ràng thông qua một quá trình thu thập thông tin chặt chẽ nhưng đến phiên xử sau có khi thay đổi hoàn toàn. Bởi vậy sự khác nhau giữa kết luận thanh tra với dự thảo là chuyện rất bình thường” thì người viết cho rằng Ông Khánh hoặc hiểu rất lơ mơ về pháp luật hoặc cố tình đánh tráo khái niệm, lập lờ đánh lận con đen. Ông Khánh có hiểu toà là “Nhân danh nước Cộng hoà XHCN Việt nam…” không, để đến được toà là có cả hệ thống giám sát công khai và minh bạch. Còn TTCP thì nhân danh ai ? Chẳng lẽ…Không thể so sánh như thế được Ông Khánh ạ. Rồi đây công luận sẽ có dịp mục sở thị văn bản giải trình của EVN. Người viết tự nghĩ, nếu EVN giải trình được biệt thự, bể bơi, sân tennis thực sự EVN không đưa vào giá điện, Xe vượt tiêu chuẩn gấp 2,5 lần là không có gì, số lao động để tính lương cao gấp rưỡi lao động làm việc thực tế (Cao hơn cả mấy công ty công ích mà giám đốc lương 2,6 tỷ/năm) là theo quy định của Bộ Lao động Thương binh và xã hội và nhiều vấn đề khác một cách hợp lý thì chắc chắn khoa học về kinh tế sẽ phải lập ra môn học: “Giải trình”, Thuỷ tổ của môn học là EVN, adua, sát cánh xây dựng chương trình , giáo trình lại là TTCP Lâu nay, mỗi người dân Việt đều lo lắng cho vận mệnh quốc gia trước sự tàn phá khủng khiếp của tham nhũng, lãng phí. Rất, rất nhiều người không hiểu vì sao không phát hiện được tham nhũng lãng phí, rằng có tham nhũng trong đội ngũ những người chống tham nhũng không, vì sao thanh tra nhiều mà chẳng phát hiện được vụ việc nào cả…Có lẽ đây cũng chính là một câu trả lời. May sao còn thấy chút ánh sáng cuối đường hầm khi Bộ trưởng Bộ Công an và Tổng Cục trưởng, Tổng cục Cảnh sát điều tra đã có những động thái điều tra ban đầu. Hy vọng lắm thay. Tác giả LAN ANH gửi TTXVA.ORG Xem tin nguồn: http://ttxva.org/evn-thanh-tra-va-a-dua/#ixzz2jOv9yU00 Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

DẬY MÀ ĐI

2085. SỨC LAY ĐỘNG CỦA “DẬY MÀ ĐI” Posted by basamnews on October 31st, 2013 Tương Lai 2 Có lẽ những chàng trai cô gái say sưa hát bài “Dậy mà đi” để chào đón Đinh Nhật Uy buộc phải được trả tự do tại Tòa án Long An hôm 29.10.2013 không biết và cũng không cần biết rằng bài đó ra đời từ trong nhà tù thực dân năm 1941, khi đất nước còn nằm trong xiềng xích nô lệ. Bài thơ làm trong nhà tù thuở ấy tự nhắc nhở : “Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần ? Huống đường đi còn lắm bước gian truân Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu“! Thế rồi một phần tư thế kỷ sau, lời thơ được biến tấu thành ca từ của một bài hát cùng tên với điệp khúc “Dậy mà đi, dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi” ra đời trong phong trào đấu tranh chống chế độ Sài Gòn của sinh viên và thanh niên Miền Nam những năm 1966- 67. Để rồi hôm nay, lớp trẻ cháy bỏng khát vọng tự do, dân chủ lại đang hát vang khúc ca đòi bẻ gãy những xiềng xích mới. Lịch sử đang đi những bước oái oăm! Câu hát năm nao bỗng như một lời tiên tri “Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu“. Nếu cứ cho đó là một câu “tiên tri” thì câu “tiên tri” ấy đang biến thành lời giục giã cho cuôc chiến đấu mới ” Ai nên khôn không khốn một lần” rồi trào dâng thành một làn sóng dập dồn : “Hát cho dân tôi nghe, tiếng hát tung cờ ngày nào. Hát cho đêm thiên thu…Hát âm u trong đêm, muôn cánh tay đang dậy lên…”. Thế rồi, “ tiếng hát tung cờ ngày nào” giờ đây vang lên để vạch mặt những kẻ nhân danh lá cờ ấy để tròng một thứ xiềng xích mới lên cuộc sống của đất nước. Xiềng xích ấy đang đè nặng lên tâm tư của cả một dân tộc vốn hiểu rõ chân lý‎ không có gì quý‎ hơn độc lập tự do. Những kẻ nhân danh lá cờ ấy đang đặt những gông cùm mới lên cuộc sống của tuổi trẻ yêu nước không cam chịu cúi đầu trước bọn xâm lược phương Bắc thực thi chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Những kẻ đang cúi đầu trước bọn xâm lược lại đang đang cắm chính lá cờ ấy trên nóc nhà tù, trại giam nhan nhản khắp cả nước để uy hiếp, trấn áp những người yêu nước, bóp chết khát vọng dân chủ, tự do và quyền con người, nhằm củng cố cho một chế độ toàn trị phản dân chủ, phản tiến hóa đang bị lung lay từ chân móng. Lá cờ ấy đang bị hoen ố bởi những hành động đáng xấu hổ mà chế độ toàn trị phản dân chủ này đang gây ra cho cả dân tộc, xúc phạm đến anh linh những thế hệ Việt Nam đã nằm xuống để bảo vệ mảnh đất thiêng của tổ quốc mà vì điều thiêng liêng ấy, cả núi xương, sông máu đã phải đổ ra. Thế hệ trẻ hôm nay quyết không để cho lá cờ ấy bị hoen ố. Sức lay động của tiếng hát “Dậy mà đi” khởi nguồn từ đó. Tiếng hát đón chào Đinh Nhật Uy, từ tòa án Long An bước ra là để tuyên bố trước toàn thế giới một chuyện đáng xấu hổ : Việt Nam có lẽ là nước đầu tiên một công dân bị bỏ tù vì đã sử dụng Facebook, một trong những thành tựu văn minh mà loài người có được từ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin! Đương nhiên Viện Kiểm sát và Tòa án tỉnh Long An gắng gượng viện dẫn bằng được những điều khoản này nọ để ghép “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo khoản 1 Điều 258, BLHS cho Đinh Nhât Uy. Luật sư Hà Huy Sơn đã bác bỏ tất cả những điều đó và đòi ” trả tự do ngay tại phiên tòa cho ông Đinh Nhật Uy“. Thật ra,với Tòa án của môt chế độ toàn trị quen với những bản án “bỏ túi” thì lời lẽ và luận cứ của luật sư chỉ là vật trang sức rẻ tiền,họ bỏ ngoài tai. Họ không thể tuyên Đinh Nhật Uy vô tội và do đó phải được trắng án, phải được bồi thường. Bước đi oái oăm của lịch sử đang dẫm lên vết nhơ này. Chúng ta muốn xây dựng một nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn“, nhưng chế độ toàn trị phản dân chủ này đang làm ngược lại mong muốn đó. Nó đang phản bội lại lý tưởng cao đẹp của những người từng “dậy mà đi” trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vì vậy mà hôm nay, tuổi trẻ lại đang phải “hát âm u trong đêm, muôn cánh tay đang dậy lên…”. Bản án dành cho Đinh Nhật Uy rồi cũng sẽ là bản án dành cho những người có lương tri, lương năng đang và sẽ sử dụng những thành tựu của văn minh để làm cho cuộc sống văn minh hơn, đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn. Họ, trước hết và chủ yếu là một thế hệ mới của những người đấu tranh cho dân chủ mà internet là công cụ rất tiện ích và có tiềm năng rất lớn . Họ lại là những người rất trẻ, đủ lòng dũng cảm và trí sáng tạo để thể hiện khát vọng của họ. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình, điều mà chế độ toàn trị rất kiêng kỵ! Kiêng kỵ như người ta đã từng kiêng kỵ “xã hội dân sự dân sự”. Một nhà nước pháp quyền đàng hoàng sẽ không thể kết tội Đinh Nhật Uy. Bởi, nếu vậy thì rồi, 32 triệu người sử dung internet [nếu đúng như người ta loan báo để đánh bóng thành tích] đều có nguy cơ bị Điều 258 của Bộ Luật Hình sự cho vào tù bất cứ lúc nào. Nhưng không thể không dằn mặt và răn đe một trào lưu đang như những dòng suối nhỏ đổ ra sông lớn mà sức cuộn chảy của nó không một bờ bao, một con đê nào ngăn chặn nổi. Thêm vào đó, dòng sông đang xuôi về biển cả, sóng đại dương đang tiếp sức cho tốc độ bứt phá của dòng sông cuộc sống. Dư luận quốc tế đang là một sức ép hiện thực mà nhà nước toàn trị này phải tính toán. Đó là sức cộng hưởng của phong đào dân chủ trong nước từ bản Tuyên bố về thực thi quyền dân sự và chính trịcủa giới trí thức nhân sĩ trong và ngoài nước, kết hợp với những sáng kiến của giới trẻ trong đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cùng với những bàn chân nổi giận của người nông dân mất đất rầm rập xuống đường, tạo thành một nội lực to lớn để được tiếp sức của cộng đồng quốc tế, bao gồm chính giới có mối quan hệ nhà nước với nước ta, giới đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền thế giới và mạng lưới truyền thông quốc tế thường xuyên theo sát diễn biến tình hình ở Việt Nam . Bước đi oái oăm của lịch sử cũng đang thể hiện ở thế giằng co chưa ngã ngủ từ đối nội cho đến đối ngoại mà cái sức cộng hưởng nói trên đang in đậm dấu ấn. Dấu ấn ấy hiện rõ trong ứng xử của người cầm quyền trong thế “tiến thoái lưỡng nan“, “đi thì cũng dở, ở không xong” trước bao áp lực vì đang “nhả chẳng ra cho, nuốt chẳng vào” những lợi ích phe nhóm khi mà những lợi ích ấy lại được đặt lên trên lợi ích của tổ quốc, lên trước lợi ích và khát vọng của toàn dân. Từ một sự kiện vụ án Đinh Nhật Uy, khởi đầu cho việc xử lý mạng lưới internet đầy bất trắc đối với một chế độ toàn trị trước một xã hội đang tỉnh thức, gây nên sự ngột ngạt trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân đang đối diện với bao khó khăn về kinh tế và an toàn xã hội. Không hiểu điều này có nằm trong cái mà ông Tổng bí thư nọ cảm thấy”ngột ngạt” khi ông nói với cử tri quận Ba Đình ngày 27.9.2013 không, chứ ngay từ đầu thế kỷ XX thì các cụ ta trong phong trào “Duy tân” đã thốt lên rằng : “Văn minh là thế giới nào. Mà ta chìm đắm trong hào dã man“! Xin nhớ cho là tòa án của chế độ thực dân đã tửng xử vụ án “Đồng Nọc Nạn”, rồi chính quyền Sài Gòn trước 75 đã không thể không nể trọng các luật sư biện hộ và đấu tranh cho công lý. Và hồi ấy, “ma tà”, “lính kín”,”sen đầm” chưa phải tổ chức một bộ máy côn đồ du thủ du thực đông đến vậy để huy động vào việc đàn áp dân chúng. Bọn côn đồ này đánh người nhân danh công an, trước mắt công an, được công an khuyến khích, cổ vũ mà chuyện đánh đập dã man gây thương tích công dân Lưu Trọng Kiệt hay chuyện hành hung bloger Lâm Bùi trước cửa Tòa án Long An hôm rồi chỉ là một trong vô vàn những ví dụ! Nhưng bạo lực chỉ có thể là cách giải khát bằng thuốc độc. Bạo lực không khuất phục được tuổi trẻ, ngược lại, đang đổ thêm dầu vào lửa, ngọn lửa của sự phẫn nộ và ý chí đấu tranh. Cũng chính vì vậy, sức lan tỏa của bài hát “Dậy mà đi” các bạn trẻ đang hát kia đang thổi một làn sinh khí vào đời sống ngột ngạt mà xã hội đang phải chịu đựng. Xin được phép trích ra đây những lời gan ruột của bloger Lâm Bùi, người bị hành hung để chứng minh cho điều ấy : “Cái đau này không phải vì là thể xác, mà là ở tâm hồn…đau vì nhà cầm quyền thay vì lắng nghe dân, tôn trọng dân, thì luôn dùng quyền lực, dùng bạo quyền để trấn áp người dân. Coi lợi ích đảng phái phe nhóm lớn hơn Dân Tộc, lớn hơn Tổ Quốc…và coi dân là kẻ thù, là thù địch. Sau phiên tòa, dù rằng Đinh Nhật Uy được hưởng án treo, được phóng thích tại tòa, nhưng đó vẫn là một bản án, một bản án bất công và Uy đã phải bị giam cầm oan uổng hơn 4 tháng trời. Đảng vẫn muốn cai trị bằng quyền lực để phục vụ cho mình, bằng sự dối trá để đầu độc người dân, bằng những điều luật mà mỗi người dân, mỗi người như chúng ta đây, khi muốn thể hiện cái Quyền Con Người chính đáng của mình…thì bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành những Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Trần Vũ Anh Bình, Việt Khang, Nhật Uy, Nguyên Kha…và nhiều…tại sao?Hãy lên tiếng, và hãy cứ lên tiếng, vì chúng ta là con người…chúng ta không phải là những con cừu. Chúng ta không kêu gọi lật đổ hay tranh giành, chúng ta chỉ muốn họ thay đỗi, hãy xóa bỏ những điều luật không đúng, sai trái, hãy tôn trọng quyền con người của mỗi người công dân…hãy thay đổi cả chúng ta và cả họ…hãy thay đổi…thay đổi vì Việt Nam cho Việt Nam. Đẹp biết bao, cao cả biết bao ý chí của tuổi trẻ, nguồn sinh lực bất tận của dân tộc! Chính họ chứ không phải ai khác đang thúc đẩy lịch sử đi tới, đang góp phần viết nên những trang sử mới của cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do, tiếp tục sứ mệnh của cha anh từng đổ máu cho sự nghiệp giành độc lập của tổ quốc. Vì, họ hiểu rằng, độc lập mà không có dân chủ và tự do, không có nhân quyền thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì cả. Ngày 31.10.2013 Tags: Đinh Nhật Uy This entry was posted on Thursday, October 31st, 2013 at 20:58 and is filed under Chính trị, Dân chủ/Nhân Quyền, Đảng/Nhà nước. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. Both comments and pings are currently closed.

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Góp ý trước thềm phán quyết - sửa đổi Hiến pháp 1992 PGS. Đào Công Tiến Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam Nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP.HCM Kính thưa Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng và quý vị Đại biểu Quốc hội khóa 13 Chương trình nghị sự đối với việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tại kỳ họp thứ sáu của Quốc hội khóa 13 đã qua “vòng 1” – nghe giải trình và thảo luận Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992. Việc còn lại của sự lựa chọn và phán quyết đối với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là công việc hết sức quan trọng, nhưng vô cùng khó khăn vì còn nhiều khoảng cách khác nhau cho sự lựa chọn đó, đòi hỏi Đại biểu Quốc hội tiếp tục suy tư, trăn trở để xác định lời giải cho mình về những vấn đề lớn của dân của nước đặt ra đối với sửa đổi Hiến pháp. Trên tinh thần đó, tôi xin được tiếp tục chia sẻ với những ý kiến góp ý sau đây với Đại biểu Quốc hội. 1. Việt Nam là một đất nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái. Vì thế, Hiến pháp phải khẳng định mạnh mẽ lập trường chủ quyền đối với một đất nước độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và lập trường dân tộc với khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam là chủ thể của chủ quyền đó. Điểm quy chiếu xuyên suốt của lập trường dân tộc như đã đề cập ờ trên là thực thi quyền con người, quyền Dân sự và Chính trị của công dân. Hơn 65 năm qua, với 4 Hiến pháp và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân có được đề cập như liệt kê những quyền cơ bản, nhưng những chuẩn mực cần có chưa được làm rõ, nhất là quyền trong sự gắn kết với nghĩa vụ bị nghĩa vụ lấn lướt làm mờ nhạt, thậm chí còn bị vô hiệu hóa. Điều 33 (sửa đổi bổ sung điều 58 của Hiến pháp hiện hành) thừa nhận quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, nhưng thiếu chế tài đề bảo vệ nguồn thu nhập hợp pháp đó tránh khỏi sự bòn rút bởi những biến động của giá, lương, thuế, phí làm cho thu nhập trên thực tế trở thành thu nhập không đủ sống (ngay cả với mức sống tối thiểu). Những Hiến định về quyền con người, quyền Dân sự và Chính trị của công dân cần thể hiện những quy định và chuẩn mực quốc tế, nhất là với Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, công bố ngày 10/12/1948 và công ước quốc tế về những quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký tham gia ngày 24/09/1982. 2. Chế độ chính trị mà Việt Nam chọn đưa vào Hiến pháp, xin đề nghị là Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ, chứ không phải Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (như Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992) vì tinh thần của nền cộng hòa sáng rõ và đầy sức thuyết phục, còn XHCN có nhiều nội hàm không phù hợp, không đúng, gây ra nhiều bất ổn cho tiến trình phát triển và hoàn thiện xã hội. Với chế độ chính trị là Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ đề nghị đổi tên nước từ “Cộng hòa XHCN Việt Nam” thành “Việt Nam Cộng hòa” hoặc “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” (như Hiến pháp 1946). Sứ mạng và tầm nhìn của chính thể Cộng hòa hoặc Cộng hòa Dân chủ là bảo vệ độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự lựa chọn và thay đổi này phù hợp với tinh thần cộng hòa theo tư duy Hồ Chí Minh, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng tuyên bố trước quốc dân, đồng bào, đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè trên thế giới qua Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Sự thay đổi này cũng phù hợp với nhận thức mới về học thuyết Mác - Lênin và Chủ nghĩa Xã hội đã được cuộc sống kiểm định và phán xét về sự không phù hợp và không đúng của nó. Và trên thực tế nó đã không vượt qua được khủng hoảng và sụp đổ bởi nguyên nhân tự thân của nó. 3. Nhà nước của nước Việt Nam Cộng hòa hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, chứ không phải của giai cấp công nhân hoặc giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng (như Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992). Nhà nước của nước Việt Nam Cộng hòa hoặc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, chứ không phải nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (như Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992). Các nhánh quyền lực nhà nước – lập pháp, hành pháp, tư pháp – phải được phân định rạch ròi theo chức năng, nhiệm vụ của nó. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm và quyền hạn tương thích với chức năng nhiệm vụ ở các nhánh phải hoạt động độc lập, không ỷ lại, dựa dẫm vào nhau và cũng không để cho tổ chức và cá nhân bất kỳ nào can thiệp, chi phối, nhất là đối với hệ thống tư pháp phải được xét xử độc lập trên cơ sở Hiến pháp và luật. Sự phân định rạch ròi đó cũng tạo chuẩn mực để các nhánh quyền lực nói riêng và các tổ chức chính trị, xã hội khác nói chung ràng buộc, chế ước lẫn nhau nhưng không chi phối theo kiểu vượt thẩm quyền hoặc độc quyền quyền lực. 4. Ở điều 4 của Hiến pháp 1992 và Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, nên bỏ những phần nói cụ thể về Đảng Cộng sản Việt Nam và “Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, và thay vào đó là những hiến định về đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền là Đảng tôn trọng chủ quyền quốc gia, dân tộc Việt Nam, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, được nhân dân tín nhiệm, người của đảng được nhân dân bầu chọn, đưa vào bộ máy nhà nước của dân, do dân, vì dân qua các cuộc bầu cử thật sự tự do, dân chủ có sự sàng lọc của cạnh tranh chính trị trong môi trường đa nguyên, đa đảng. 5. Với tầm của Hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ ràng về chủ quyền và quyền sở hữu đất đai. Đất với tư cách là lãnh thổ, là tài nguyên và là cảnh quan môi trường tự nhiên, thuộc chủ quyền quốc gia và quyền của chủ quyền đó là của toàn dân và Nhà nước được trao quyền đại diện chủ quyền. Đất được đưa vào khai thác, sử dụng còn là sản phẩm của lao động (cả lao động cha truyền con nối) là tài sản hoặc bộ phận cấu thành tài sản (trong bất động sản), là tư liệu sản xuất (trong sản xuất nông nghiệp) của người dân và các chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định, lẽ ra phải được cư xử như những tài sản, những tư liệu sản xuất như đã đề cập ở điều 33 của dự thảo. Ở đó quyền sở hữu tư nhân được thừa nhận và bảo hộ bên cạnh sở hữu nhà nước và tập thể. Hiến pháp 1980 và 1992 không thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai, đã gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế và bất ổn xã hội. Thiết nghĩ, đã đến lúc phải sửa đổi. Bên cạnh sự khẳng định tài nguyên đất thuộc chủ quyền quốc gia, toàn dân tộc, Hiến pháp phải thừa nhận và bảo hộ sở hữu tư nhân về đất đai bên cạnh sở hữu nhà nước và tập thể. Đất đai là tài sản có chủ thể sở hữu rõ ràng, trong kinh tế thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu được thực hiện dưới hình thức mua bán là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá cả thị trường. Trong những trường hợp đặc biệt vì an ninh, quốc phòng có thể trưng thu đất nhưng phải có đền bù không để thiệt đối với người dân. 6. Mô hình kinh tế tổng quát, đã và đang được thể hiện trong Hiến pháp 1992 và bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, bị chi phối bởi chế độ kinh tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, đã không còn phù hợp phải thay đổi trong tu chỉnh Hiến pháp kỳ này. Để tạo điều kiện và khuyến khích huy động mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong dân để chấn hưng kinh tế và an sinh xã hội, thì không thể không bình đẳng trong hiến định về cách ứng xử đối với các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Vẫn tiếp tục xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo như trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 là không phù hợp với tinh thần bình đẳng và lẽ công bằng mà Hiến pháp cần có. Tác giả của bản dự thảo còn cho rằng “Quy định (kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo) như vậy để thể hiện hạ tầng kinh tế của chế độ XHCN ở nước ta”. Vậy trong mối quan hệ giữa hạ tầng kinh tế và thượng tầng kiến trúc chế độ XHCN cái nào quyết định cái nào? Sẽ không có sự biện minh nào cho việc đi ngược lại quy luật của tác giả bản dự thảo. Chế độ XHCN ở Việt Nam là cái gì, mà bắt hạ tầng kinh tế phải theo để thể hiện? Thiết nghĩ, ngoài những ý tưởng nhân văn vốn là khát vọng của loài người tiến bộ, đã được các nhà sáng lập ra lý thuyết XHCN kế thừa và coi là sứ mệnh của CNXH, thì không còn cái gì đúng và phù hợp với cuộc sống đương đại. Mô thức tổ chức xã hội XHCN với những nội hàm: (1) Về tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp, thực thi chuyên chính vô sản, lấy nhà nước vô sản chuyên chính thay cho nhà nước pháp quyền và quyền dân sự và chính trị của công dân; (2) Công hữu hóa tư liệu sản xuất và tạo lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được coi là giải pháp cách mạng XHCN đánh vào chế độ tư hữu, làm suy yếu khu vự dân doanh – cái gốc của nền kinh tế; (3) Không còn độc đoán chuyên quyền của giới chủ nô lệ, của vua quan và chúa đất, nhưng thâu tóm quyền lực của thể chế độc đảng lãnh đạo đã gây nhiều bất ổn xã hội. Trên thực tế quyền lãnh đạo của đảng đã trở thành siêu quyền đặt lên trên dân quyền và pháp quyền. Chế độ XHCN đó đã đi vào khủng hoảng và sụp đổ, nên không thể bất chấp quy luật mà bắt hạ tầng kinh tế phải tiếp tục tùng phục thượng tầng – chế độ XHCN. Từ những điều đã trình bày ở trên, xin có mấy đề nghị sửa đổi liên quan đến mô hình kinh tế tổng quát cần được thể hiện trong Hiến pháp như sau: Thay kinh tế thị trường định hướng XHCN bằng “kinh tế thị trường hiện đại” – đỉnh cao của sản xuất hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước vốn đã được chọn ngay từ đầu đổi mới. Bỏ quy định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Mô hình kinh tế tổng quát cần được thể hiện trong Hiến pháp sửa đổi với những đặc trưng khái quát là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Đa dạng hóa sở hữu, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp; (3) Không coi công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, mà chỉ cần xác định đúng mức vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam; (4) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp; (5) Liên kết và hợp tác quốc tế. Những góp ý trên đây là ý kiến từ tấm lòng và ít nhiều của sự hiểu biết của một công dân có trách nhiệm với chuyện dân, chuyện nước. Rất mong được chia sẻ cùng quý Đại biểu Quốc hội. Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24/10/2013 Kính chào Đ. C. T. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN. Được đăng bởi bauxitevn vào lúc 06:07 Nhãn: Hiến pháp